Hồi 9  - Tiếu Ngạo Trung Hoa  -  Ưu Đàm Hoa

Thiếu Thất giả cuồng đương Ngọc Diện
Trịnh Sơn nguyệt dạ khấp thê nhi


Nam Cung Giao không tống tiễn vì sợ ánh mắt lưu luyến của Cầm Đạm Thủy. Bọn chàng kéo đến Lâm Gia Trang để cáo biệt Chu Sơn Đảo Chủ Lâm Thu Bái.

Không thấy Bảo Thoa, Nam Cung Giao hỏi ngay :
- Lâm sư phụ ! Vản bối muốn được chào từ biệt lệnh ái.

Lâm lão cười khà khà :
- Con bé ấy đã đi Trực Lô thăm Đại Di rồi ! Nếu không thì lão phu đã bảo nó bắt gà làm thịt đã các ngươi.

Anh em họ Trịnh hăng hái ứng tiếng :
- Để bọn vãn bối làm cho !

Hai gã cùng Mộc Kính Thanh xuống bếp, để Nam Cung Giao hầu chuyện Lâm Thu Bá.

Lâm lão cười hỏi :
- Sao ngươi không giết Trương Phụ ?

Nam Cung Giao liền kể lại mọi việc, chỉ trừ mối tình nồng cháy với Đoàn Quí Phi. May mà chàng đã uống nước của món Hắc Cẩu Bát Bửu Thần, huống nên khí huyết hưng vượng, không hề hốc hác xanh xao vì mười đêm mây mưa nồng nhiệt !

Nam nhân độc thân và nghiện rượu thì thường có tài làm thức nhắm rất nhanh. Chỉ hơn khắc sau, ba món thịt gà rán, luộc, canh và cơm đã được dọn lên.

Giữa bữa, Lâm Thu Bái bỗng thở dài nói :
- Lão phu hiếu võ đến mức quên cả việc lập gia thất, năm ngũ thập mới lấy vợ, sinh ra được mình Bảo Thoa ! Gần đây, lão phu nghe trong người không ổn, có lẽ là do hậu quả của việc ăn kỳ trân Hải Thượng Huyết Hoa thời trai trẻ. Muốn sống lâu, lão phu cần có ba viên Đại Hoàn Đan của Thiếu Lâm Tự ! Vậy phiền Giao nhi và Thanh nhi mang thư đến núi Thiếu Thất gặp phương trượng Bạch Vân Thần Tăng, xin hộ lão phu ! Sau đó, Kính Thanh sẽ một mình mang về đây.

Nam Cung Giao vội đáp :
- Vãn bối xin tuân mệnh.

Và chàng quay sang bảo anh em họ Trịnh :
- Hai ngươi hãy về Kinh bằng đường Từ Châu, và giết gã Đông Thành Bá Vệ Cảnh giùm ta. Nhớ hành động êm thắm, tốt nhất là ngụy trang sao cho họ Vệ trông giống như đột tử hay tự sát !

Trịnh Tháo cười đanh ác :
- Công tử yên tâm ! Thuộc hạ sẽ xiết cổ gã rồi treo lên, chẳng ai có thể nghi ngờ được !

Trịnh Mãng tiếp lời :
- Bọn thuộc hạ sẽ không quên đến thăm mộ Tiểu Lan cô nương và xem tình hình của thôn Giao Chỉ mới !

Nam Cung Giao hài lòng gật đầu, chưa kịp khen họ thì nghe Lâm lão nói :
- Chuyện đời như phong vân bất trắc, biết đâu lão phu mãn số trước khi linh đan luyện xong !
Lão phu không an tâm về duyên phận của Bảo Thoa nên muốn được ngươi gọi trước một tiếng nhạc phụ !

Nam Cung Giao thấy lão quá thiết tha, không nỡ từ chối, nhưng cố vớt vát :
- Lòng yêu thương của Trang Chủ khiến vãn bối vô cùng cảm kích !
Tuy nhiên, vãn bối đã lỡ hứa nhường Lâm tiểu thư cho Mộc hiền đệ ! Y cũng thầm yêu thương Bảo Thoa từ lâu, do mặc cảm xấu xí nên không dám thố lộ !

Lâm Thu Bái phì cười :
- Làm gì có chuyện ấy ! Kính Thanh thuở nhỏ trèo cây té xuống, ngọc hành bị vỡ, đâu còn thiết tha với nữ nhân nữa ?

Trịnh Mãng khoái trá cười vang :
- Thì ra việc công tử là thái giám ! Hèn gì không có cọng râu nào, mông thì cong như đàn bà !

Trịnh Tháo đắc ý nói theo :
- Dường như tâm tính y cũng biến đổi, suốt ngày chỉ bám chặt lấy Nam Cung công tử !

Nam Cung Giao cũng rợn người thầm nghĩ :
- Bỏ mẹ ta rồi ! Chẳng lẽ Kính Thanh ái nam, ái nữ, đã xem ta là chồng ?

Mộc Kính Thanh thẹn quá hóa giận, vung tay tát vào mặt Trịnh Tháo rồi quay sang nghẹn ngào nói với Nam Cung Giao :
- Đại ca yên tâm ! Tiểu đệ chẳng đến nỗi quái gở như vậy đâu ? Nhưng nếu đại ca ghê tởm, tiểu đệ sẽ không bao giờ để đại ca nhìn thấy nữa !

Nam Cung Giao thấy mắt gã ướt rượt, lòng chàng cảm thương vô hạn, liền an ủi :
- Hiền đệ đừng nói thế ! Dù ngươi có biến thành quái vật ta cũng vẫn yêu mến hết lòng !

Kính Thanh mỉm cười tha thứ, và nói :
- Đại ca đã biết rõ ẩn tình, xin cứ nhận lời gia sư để người được vui !

Nam Cung Giao gật đầu, rời ghế phục xuống lạy Lâm Trang Chủ chín lạy, miệng gọi :
- Nhạc phụ ! Tiểu tế xin ra mắt.

Lân Thu Bái hoan hỉ cười dài, gương mặt đầy vẻ mãn nguyện, cao hứng.

Hôm ấy, cả đám đều say khướt, chỉ mình Kính Thanh là hơi tỉnh táo !


Sáng hôm sau, Nam Cung Giao và Kính Thanh theo hướng Tây về Bảo Định, còn anh em họ Trịnh đi đường Đông Nam, ghé qua thành Trực Cô (Tức Thiên Tân bây giờ).

 



Cuối tháng sáu, Nam Cung Giao vượt Hoàng Hà, cùng Kính Thanh đến thành Trịnh Châu vào giữa trưa.

Minh Đế đã tặng riêng cho Đặng Quyết, tức Nam Cung Giao, số vàng vạn lượng, nên chàng có thể yên lòng vào trọ Hà Nam Đệ Nhất Lữ Điếm.

Trịnh Châu là thủ phủ của tỉnh Hà Nam, lại nằm giữa giao điểm của hai đường quan đạo chính Bắc Nam, Đông Tây, nên trù phú, thịnh vượng hơn hẳn Từ Châu. Vì thế, chẳng có gì lạ khi giá phòng ở đây cao gấp đôi Tứ Hải Đại Lữ Điếm.

Nghe Kính Thanh đòi hai phòng, Nam Cung Giao định cản nhưng lại thôi.

Nam Cung Giao bắt đầu cảm thấy rằng dường như mình cũng là kẻ ái nam ái nữ. Vì quá yêu mến Kính Thanh chỉ muốn ôm gã vào lòng !

Trong bửa cơm, Nam Cung Giao vui vẻ nói :
- Hiền đệ ở riêng là phải ! Gần đây, tính tình ta rất quái dị, cứ nghĩ đến chuyện ôm ngươi mà ngủ !

Kính Thanh giật mình, trợn mắt vì mắc nghẹn. Gã nốc vội chung rượu lớn, nhăn mặt trách móc :
- Đại ca có bấy nhiêu vợ đẹp sao không nghĩ đến mà lại chọn tiểu đệ ?

Nam Cung Giao cười khà khà :
- Ta cũng chằng hiểu vì sao ?

Mệt mỏi vì đường xa nên họ chỉ ăn lấy lệ, lăn ra ngủ đến cuối giờ mùi.

Kính Thanh sang rũ Nam Cung Giao dạo phố :
- Đại ca ! Anh em ta dạo một vòng, rồi ghé vào Thánh Thủy Đại Tửu Lâu. Nơi ấy thức ăn ngon và có loại rượu đặc chế lừng danh Trung Thổ !

Nam Cung Giao nhăn mặt :
- Nắng thế này đi dạo làm gì, cứ lên quách chỗ ấy mà ngồi cho mát ! Ta đang đói đây !

Kính Thanh phì cười :
- Đại ca quả là xấu nết ăn. Lỡ gặp năm đói khát, không chừng sẽ ăn thịt cả vợ con !

Nam Cung Giao gật đầu, bất ngờ phát vào chiếc mông tròn trịa của họ Mộc, rồi cười nham nhở :
- Đúng thế ! Ta đang muốn ăn cả mông của ngươi đấy ! Trông mà phát thèm !

Kính Thanh đau đớn xoa chỗ bị đánh, mắt láo liên tìm cách trả đũa.

Gã đổi giọng yểu điệu :
- Đại ca đừng mạnh tay, tiểu đệ thích được nhẹ nhàng thôi !

Ánh mắt gã đầy vẻ tình tứ, lả lơi khiến Nam Cung Giao rợn tóc gáy, bối rối lùi xa, miệng ấp úng :
- Hiền đệ đừng làm ta sợ ! Ta là đàn ông mà !

Mộc Kính Thanh ôm bụng cười ngất, và hăm dọa :
- Đại ca còn dám ăn hiếp tiểu đệ nữa không ?

Nam Cung Giao cười khổ :
- Té ra ngươi đùa ! Thế mà ta tưởng ngươi đang muốn lấy ta ! Từ nay ta xin chừa !

Hai người rời lữ điếm, đi thẳng về hướng Nam, lên tầng chót của Thánh Thủy Đại Tửu Lâu ăn nhậu.

 


Trịnh Châu là địa bàn của Hồ Bang, nên trước khi đến sông Hoàng Hà, Nam Cung Giao và Kính Thanh đã phải cải trang thành hai hán tử rậm râu.
Giờ đây, họ có thể ung dung ăn uống, dù chung quanh có rất nhiều khách võ lâm, vì ngay bàn bên cạnh là bốn gã đệ tử Hồ Bang.

Không phải do bọn này dán chữ lên mặt, mà là vì Nam Cung Giao thính tai, nghe được cuộc đối thoại dù rất khẽ, lúc này Kính Thanh đã rời bàn, ôm bụng nhân nhó :
- Tô Đường chủ ! Tiểu đệ nghe anh em kháo nhau rằng Bang Chủ phu nhân Đinh Tử Phượng bị tống vào ngục khi đang mang thai, chẳng hay việc ấy có thực hay không ?

Gã Đường Chủ họ Tô kia đắc ý gật đầu, ra vẻ quan trọng :
- Đúng thế ! Đây là bí mật quan trọng của bổn bang, ta chỉ nói riêng cho mình ngươi biết, tuyệt đối không được để hở ra nghe chưa !
Sài Bang Chủ đang luyện thần công nên kiêng nữ sắc đã hơn nửa năm nay, khi phát hiện Đinh phu nhân có thai, ông ta biết ngay vợ mình đã dan díu với gã Nam Cung Giao, trong lúc thực hiện chiến dịch đòi tiền chuộc Thất Vương Gia !
Sài Bang Chủ định giết ngay Đinh phu nhân, nhưng nhị vị lão nhân gia Hồ Ly Song Tiên đã ngăn cản. Kế hoạch của họ là sẽ gởi thư nói rõ việc này, dụ Nam Cung Giao mang vàng đến chuộc Đinh Tử Phượng và bào thai, rồi giết gã ! Nhưng phải sau khi hợp lực cùng Vô Thanh Cốc tấn công Kim Diện Cung vào đầu tháng tám tới, thì mới tính đến vụ này !

Nam Cung Giao nghe xong, lòng lo lắng vô hạn, thương cho Tử Phượng và đứa con của mình trong bụng nàng !

Chàng cố bình tâm lắng nghe tiếp, vì gã mặt choắt kia đã lại hỏi họ Tô :
- Sao chúng ta không tự mình ra tay để gom gọn số tài sản khổng lồ của Kim Diện Cung mà lại phải nhờ đến Vô Thanh Cốc ?

Tô Đường Chủ lên mặt :
- Ngươi quả là ngu xuẩn ! Cuộc tập kích này phải chớp nhoáng, kết liễu trước khi quan quân Từ Châu kéo đến. Do vậy mới cần lực lượng sát thủ thiện chiến của Vô Thanh Cốc ! Nghe nói lần này cả Hồ Ly Song Tiên và Long Giác Thần Quân đều ra tay để đảm bảo thành công.

Nam Cung Giao không ưa gì Cung Chủ Kim Diện Cung Tiền Phong Vân, nhưng dẫu sao lão ta cũng là nhạc phụ, chàng thầm mừng vì đã may mắn nghe được tin tức quí giá này.

Gã thứ ba, có hai nhánh râu cá chốt đểu cáng, chợt xen vào :
- Tô Đường Chủ. Sao Đinh phu nhân không trốn đi trước khi bị phát hiện ? Để lâu bụng phướn ra tất nhiên sẽ lộ !

Họ Tô gật gù :
- Chắc chắn bà ta đã nghĩ đến việc đào tẩu nhưng do mắc kẹt mẫu thân đang lâm trọng bệnh nên không nỡ bỏ đi. Nửa tháng trước, Đinh lão thái từ trần, phu nhân ngất xỉu nên mới bị phát hiện là đang nịt bụng để giấu cái thai !

Có lẽ đã no say, bốn gã tính tiền rồi đi xuống.

Kính Thanh cũng đã ra đến, mặt phởn phơ, nhẹ nhõm.
Gã cau mày hỏi :
- Sao sắc diện đại ca lại u ám như vậy ?

Nam Cung Giao gượng cười, chọc ghẹo gã để giấu giếm tâm sự :
- Ta đang lo ngươi rơi xuống hố xí chết mất tiêu rồi ! Sao đi lâu thế ?



Chắc chư vị độc giả vẫn thường thắc mắc, tự hỏi rằng người thời cổ nói chung, các hiệp khách nói riêng, đã đi vệ sinh như thế nào ? Và vì sao Nam Cung Giao lại sợ Kính Thanh chết đuối trong hố xí ?

Vậy thì xin chư vị bịt mũi mà đọc đoạn này !
Số là, hố xí có từ rất sớm, tên chữ Hán là xí sở ( xí có nghĩa là bên cạnh, hàm ý là nó được làm ở chỗ kín đáo ).
Thời Tần, Hán, hố xí thường liền với chuồng lợn, để tích trữ phân bón ruộng ! Hố chứa phân rất sâu nên thường có người không cẩn thận, trượt chân ngã xuống đấy mà chết. Trong Tả Truyện, hồi Thành Công Thập Niên có viết : "Tấn Hầu là Tương Thực Trương vào hố xí rơi xuống mà chết !"
Chết thế này quả không thơm tho chút nào cả, và chắc là khó đầu thai vì ngay âm phủ cũng chẳng dám tiếp nhận !
Thời Ngụy Tấn, bọn quí tộc làm hố xí rất sang trọng, hào nhoáng ngay trong nhà, có cả nô bộc túc trực hầu hạ, khiến khách ở địa vị hèn kém ngại ngùng chẳng dám vào, cố mà nín !

Người xưa thường mặc áo dài, vào nhà vệ sinh rất bất tiện, phải cởi ra. Do vậy, đi vệ sinh được gọi khéo là canh y (thay áo).

Và sau khi đại tiện thì họ làm sao ?
Xin thưa rằng, các cụ nhà ta dùng một mảnh tre mỏng để lau chùi, dùng xong rửa sạch mà xài cho lần khác ! Ôi ghê quá !

Sau khi phát sinh ra giấy, đại đa số người Trung Hoa cổ vẫn cứ dùng mảnh tre, vì giấy quá đắt ! Còn giấy viết rồi thì cũng không được đem ra chùi đít, vì phải tôn trọng chữ nghĩa của thánh hiền !
Cho đến thời nhà Nguyên, trong chính sử mới có ghi chép về việc dùng giấy vệ sinh.
Thời Minh-Thanh, cũng chỉ những nhà đại phú, quan quyền và trong các khách sạn lớn mới dám xài giấy xấu. Tất nhiên phải được vò cho thật mềm !




Giờ chúng ta có thể buông tay, trở lại Thánh Thủy đại Tửu Lâu, nghe Kính Thanh cười khúc khích :
- Đại ca chỉ giỏi nói bậy ! Hầm phân ở tầng trệt, hố xí trên này chỉ là một bệ gạch thông xuống dưới, lỗ nhỏ xíu làm sao chui lọt được ?
Nam Cung Giao xua tay :
- Thôi ! Ngươi đừng diễn tả nữa, ta ăn mất ngon !

Chàng cố tỏ thái độ vui vẻ để gã nghĩa đệ tinh ranh kia không nghi ngờ, vặn vẹo. Chàng đã quyết mạo hiểm, xâm nhập Tổng Đàn Hồ Bang trên núi Trịnh Sơn để cứu Tử Phượng, chín phần chết, một phần sống, nên không thể cho Kính Thanh đi theo được. Nhưng phải chờ lấy xong Đại Hoàn Đan, Kính Thanh lên đường mang về Bắc Kinh, thì chàng mới quay lại mà ra tay !

Đêm ấy, Nam Cung Giao thao thức mãi, mới ngủ và nằm mộng thấy Đinh Tử Phượng, bụng to vượt mặt đang ngồi dựa vách trong ngục đá.
Lạ thay, nàng lại mỉm cười và bảo :
- Trăng chưa tròn, tướng công đến đây làm gì ?

Nổi xong, nàng biến mất !

Nam Cung Giao kinh hãi gọi vang, chạy nhanh tìm kiếm. Và rồi chàng giật mình tỉnh giấc, mồ hôi toát ra như tắm.
Chàng rời giường, uống một tách trà nguội, ngồi thừ người suy nghĩ.

Chàng nhẩm tính, biết rằng Tử Phượng mang thai đã được bốn tháng rưỡi, trước Sở Nhu nửa tháng. Câu nói lạ lùng của Tử Phượng trong giấc mơ lúc nãy cứ ám ảnh chàng mãi.

Chàng tự hỏi :
- Phải chăng đêm rằm tháng bảy này Hồ Bang sẽ tổ chức cúng cô hồn ?

Nhưng nghĩ đến việc Tử Phượng vẫn còn sống chứ chưa thác, làm sao báo mộng được, chàng chẳng biết nên tin hay không.

Sáng ra, Nam Cung Giao và Kính Thanh rời Trịnh Châu, đi đến núi Tung Sơn trên đất Đăng Phong !

Trưa hôm sau hai người đã có mặt ở chùa Thiếu Lâm.

Đọc xong thư của Chu Sơn Đảo Chủ, Bạch Vân phương trượng vui vẻ nói :
- Té ra nhị vị thí chủ đây một người là rể, một người là đồ đệ của Lâm Đảo Chủ !

Ông vuốt chòm râu bạc trắng như cước ngắm nghía Nam Cung Giao rồi gật gù khen :
- Nam Cung thí chủ khí chất phi phàm, cốt cách anh hùng, quả xứng đáng làm rể một bậc kỳ nhân như Chu Sơn Đảo Chủ !

Ông nhìn sang Mộc Kính Thanh, chưa kịp nhận xét đã bị gã cướp lời :
- Đệ tử vốn chẳng ra gì ! Xin đại sư đừng nói ra khiến kẻ hèn này thêm tủi hổ !

Thiền Sư mĩm cười :
- Thí chủ không cho phép thì lão nạp cũng chẳng dám nhiều lời !

Ông nâng chung trà mời khách, nhấp một hớp rồi nghiêm giọng :
- Nhị vị đến đây quả là đúng lúc ! Lão nạp có điều muốn thỉnh giáo !

Kính Thanh mau miệng :
- Xin đại sư cứ dạy.

Bạch Vân Thiền Sư hắng giọng hỏi :
- Mộc thí chủ ở đảo Chu Sơn khá lâu có biết gì về cháu trai của Đông Hải Thần Tăng, trụ trì chùa Phổ Đà này không ?

Mộc Kính Thanh đảo nhanh cặp mắt hắc bạch phân minh, ngập ngừng đáp :
-Bẩm đại sư ! Người ấy tên gọi Trương Sĩ Hạo, ba mươi bốn tuổi, chưa vợ nổi tiếng khắp vùng duyên hải, có biệt danh là Ngọc Diện Thần Kiếm.
Họ Trương tiếp thu được hết sở học của Đông Hải Thần Tăng, kiếm pháp cực kỳ cao siêu, chưa biết bại là gì !

Gã đổi hơi rồi hỏi lại :
- Nhưng vì sao đại sư lại hỏi thăm về gã ấy ?

Bạch Vân Thiền Sư nghiêm giọng :
- Phật pháp chỉ một nhưng giáo phái Trung Hoa lại chia nhiều nhánh, từ đấy sinh ra việc tranh giành thanh danh, nói ra thực xấu hổ !

Đầu năm ngoái, trong đại hội tăng thống toàn quốc vua Minh Anh Tông đã ngỏ ý muốn tặng chùa Thiếu Lâm danh hiệu Hộ Quốc Vĩnh Thọ Thiếu Lâm Thiền Tự.
Song Đông Hải Thần Tăng, phương trượng chùa Phổ Đà đã đứng lên nói rằng Phổ Đà Tự mới xứng đáng được nhận tấm bông vàng ấy. Đã nhiều năm nay, tăng lữ chùa Phổ Đà tham gia bảo vệ Đảo Chu Sơn trước sự tấn công của bọn hải tặc Phù Tang.
Còn Thiếu Lâm Tự thì chẳng có công lao gì cả !

Thiền Sư thở dài, kể tiếp :
- Đông Hải Phật huynh còn công khai phê phán rằng võ học Thiếu Lâm Tự đã sa sút, chẳng thể sánh với Phổ Dà Tự !

Để chứng minh, thần tăng đã hẹn tháng bảy này cử đệ tử là Trương Sĩ Hạo đến bổn tự so tài ? Chỉ cần chùa Thiếu Lâm có đệ tử nào tuổi dưới bốn mươi mà đả bại được Sĩ Hạo thì Phổ Đà Tự sẽ không tranh giành danh hiệu vua ban nữa.
Thánh thượng không muốn xen vào chuyện nội bộ của Phật Giáo nên đã chuẩn tấu cuộc phó ước !

Mộc Kính Thanh bực bội nói :
- Đông Hải Thần Tăng bề ngoài trang nghiêm, hiền hòa, không ngờ bên trong lại đầy đủ tham sân si !

Nam Cung Giao tủm tỉm cười :
- Ngươi cũng khôn nên sớm đào tẩu nếu không sẽ trở thành cháu rể của lão sư hổ mang ấy rồi !

Kính Thanh giật mình, nói lảng sang chuyện khác.
Gã giả vờ ngây thơ hỏi :
- Bẩm đại sư ! Trước giờ đệ tử cứ ngỡ Phổ Đà Tự cũng từ chùa Thiếu Lâm mà ra !

Bạch Vân Thiền Sư lắc đầu, từ tốn giải thích :
- Không phải thế, vào năm Trinh Minh thứ hai, đời Hậu Lương, một đoàn tăng nhân Nhật Bản đến Ngũ Đài Sơn rước tượng Phật Quan Âm về nước thờ phụng. Nhưng thuyền của họ ra đến vùng đảo Chu Sơn thì gặp bão dữ dội, đành phải ghé vào núi Lạc Ca Sơn. Cho rằng đức Phật Quan âm không muốn rời Trung Hoa các tăng lữ Nhật Bản đành về tay không, còn tượng Phật gởi lại một nhà dân.

Ngôi nhà ấy sau này được đặt tên là Quan Âm Bất Khẳng Khứ Phật Viện (Viện Quan Âm không chịu đi).
Có một vị thiền sư Nhật Bản ở lại với tượng Phật, và chính ông đã xây nên chùa Phổ Đà hiện nay. Vị thiền sư này tên là Từ Dũ Kỳ, rất giỏi kiếm pháp và nhu thuật của Phù Tang. Ông ta đã nghiên cứu kiếm pháp Trung Hoa, phối hợp với sở học, sáng tạo nên pho Lạc Ca kiếm pháp, truyền lại cho đến bây giờ !
Tóm lại, Phổ Đà Tự không có quan hệ gì với bổn tự !

Mộc Kính Thanh gật gù ra vẻ đã hiểu, rồi nghiêm trang nói :
- Không phải đệ tử xem thường quí tự, song Trương Sĩ Hạo đã được gia sư tặng cho một cánh Hải Thượng Huyết Hoa, nên hiện nay gã sở hữu đến bốn mươi năm chân khí ! Đệ tử sợ rằng trong độ tuổi dưới bốn mươi, phái Thiếu Lâm không có ai hơn được gã !

Lời tiết lộ này đã khiến Bạch Vân Thiền Sư bàng hoàng.
Ông rầu rĩ xác nhận :
- Thí chủ nói không sai ! Đệ tử giỏi nhất của lão nạp cũng chỉ có độ ba mươi năm tu vi !

Và ông cau mày hỏi :
- Nhưng sao Lâm Đảo Chủ lại tặng kỳ trân cho Trương Sĩ Hạo !

Kính Thanh ấp úng nói :
- Gia sư bắt đệ tử lấy cháu gái của Đông Hải Thần Tăng, đệ tử không chịu nên trốn đi. Gia sư phải bồi thường nhà họ Trương bằng một cành của đóa Hải Thượng Huyết hoa !

Thiền Sư mỉm cười :
- Lão nạp hiểu cả rồi !

Nam Cung Giao lên tiếng :
- Cũng tại ngươi nên giờ đây Thiếu Lâm Tự gặp khó khăn. Hay là ngươi cứ ở lại đây, gặp Trương Sĩ Hạo gọi gã là Đại Cửu Tử rồi năn nỉ gã bãi binh !

Kính Thanh cười hì hì :
- Không phải tiểu đệ mà là chính đại ca sẽ phải gánh vụ này ! Xét ra, đại ca cũng là đệ tử của Thiếu Lâm Tự đấy !

Nam Cung Giao ngớ người :
- Sao ngươi lại nói thế ?

Kính Thanh đắc ý nói :
- Pho quyền mà mỗi sáng đại ca thường múa may chính là công phu Kim Cang Phục Hổ quyền của phái Thiếu Lâm !

Nam Cung Giao ngượng ngùng, lẩm bẩm :
- Vậy mà ta cứ tưởng là gia học của họ Nam Cung !

Bạch Vân Thiền Sư hiền hòa nói :
- Thiếu Lâm Tự có truyền thống lâu đời võ học phổ biến khắp thiên hạ, sau nhiều lần bổ khuyết thì thành của riêng, Nam Cung thí chủ không biết cũng là phải !

Riêng pho Kim Cang Phục Hổ Quyền thì ngay trong bổn tự cũng ít người luyện, vì lối đánh của môn võ này cực kỳ cương mãnh, hao tổn sức lực, song lại rất thích hợp với người có tứ chi dài như thí chủ !

Kính Thanh ngắt lời ông :
- Đại sư ! Vì mối giao tình giữa quí tự và gia sư, đệ tử đề nghị được giúp một tay. Đại sư cứ cho Nam Cung đại ca đấu thử với lệnh đồ, nếu y thắng thì sẽ đại diện Thiếu Lâm Tự đấu với Ngọc Diện Thần Kiếm !

Bạch Vân Thiền Sư đăm chiêu lưỡng lự, chậm rãi nói :
- Lão nạp cũng biết Nam Cung thí chủ đây đã từng giết Dạ Hồ Sài Tốn, đuổi chạy Hàn Đan tam kiếm, đả bại Thiếu Cốc Chủ Vô Thanh Cốc, bản lãnh đứng đầu trong lớp thanh niên.Song việc này nguy hiểm đến tính mạng Nam Cung thí chủ, cũng như tổn hại thanh danh bổn tự, nên lão nạp chẳng dám nhận lời !

Kinh Thanh xua tay :
- Đại sư yên tâm ! Nam Cung đại ca đã được gia sư truyền thụ tuyệt học, chẳng thể thua được. Còn về danh nghĩa thì đại sư chỉ việc nhận y làm đệ tử là xong ! Y chưa hề nhận ai làm sư phụ !

Nam Cung Giao đang nóng ruột rời đây để lo việc cứu đại Đinh Tử Phượng nên bực bội cằn nhằn Kính Thanh :
- Sao ngươi lắm lời thế ? Ta đâu phải con gái của ngươi mà lại chịu cảnh đặt đâu ngồi đấy ?

Kính Thanh quay lại, buồn rầu bảo :
- Nếu Trương Sĩ Hạo chính là người đã đánh què chân tiểu đệ thì đại ca tính sao ?

Nam Cung Giao nhẩy dựng :
- Có việc ấy ư ? Nhưng sao giả nhạc phụ là thầy của ngươi mà lại chịu để yên ?

Kính Thanh hậm hực đáp.
- Đông Hải Thần Tăng có ơn một lần cứu mạng gia sư nương nên sư phụ đâu dám mở miệng ?

Nam Cung Giao gật gù, nở nụ cười lạnh lẽo :
- Nếu thế thì ta sẽ chặt đứt hai chân của Sĩ Hạo để trả thù cho hiền đệ.

Bạch Vân Phương Trượng nghiêm giọng :
- Lão nạp rất hiểu tấm lòng của Mộc tiểu thí chủ. Lão nạp sẽ phụng ý thi hành, nhưng không dám chịu trách nhiệm trước Lâm Đảo Chủ !

Kính Thanh vui vẻ trấn an :
- Đại sư yên tâm ! Gia sư đã từng bàn với đệ tử về việc đem Nam Cung đại ca đến học nghệ ở Thiếu Lâm Tự. Nếu y thụ giáo pho nội công Liên Hoa Tâm Pháp và được chỉ điểm thêm về kiếm đạo, thì sau này mới mong giết nổi Long Giác Thần Quân !

Nam Cung Giao sợ hãi la lên :
- Ta.. ta không chịu cạo đầu làm sư đâu !

Kính Thanh phì cười :
- Làm đệ tử tục gia thì đâu cần phải cạo đầu ! Chẳng lẽ gia sư lại muốn con rể xuất gia để ái nữ ở giá ?

Gã quay sang bảo Bạch Vân Thiền Sư :
- Bẩm phương trượng ! Trước lúc rời Trung Nguyên trở về Chu Sơn, gia sư đã so tài với Khương lão quỉ. Ông có cơ hội để khẳng định rằng Long Giác Thần Quân năm ấy đã luyện được ba thành Dịch Cân Kinh. Họ Khương trúng một roi vào huyệt phục thố trên đùi phải mà chẳng hề hấn gì ! Đấy chính là phép Di Huyệt trong Dịch Cân Kinh, suy ra, lão ta chính là kẻ đã vào Tàng Kinh Các giết người cướp kinh. Gia sư không nói ra vì sợ đại sư nóng ruột báo thù sẽ uổng mạng !

Bạch Vân Thiền Sư run lẩy bảy, khẽ lẩm bẩm :
- Thì ra tiên sư chết dưới tay Long Giác Thần Quân !

Hơn ba mươi năm trước, sư phụ của Bạch Vân là Nhất Hối Thiền Sư, phụ trách Tàng Kinh Các.
Một đêm nọ, có kẻ đã giết ông một cách êm thắm và lấy đi quyển Dịch Cân Kinh. Thiếu Lâm Tự giấu kín mối nhục này, dốc hết lực lượng ra âm thầm điều tra, nhưng không hề có manh mối !

Bạch Vân Thiền Sư vốn là trẻ mồ côi, bị quăng bỏ nơi chân núi Thiếu Thất, được Nhất Hối Thiền Sư nhặt về nuôi dưỡng, dạy dỗ. Do vậy, Bạch Vân vẫn xem Nhất Hối như cha mình. Ông đã rời chùa lang bạt khắp nơi để tìm hung thủ, gặp gỡ Chu Sơn Đảo Chủ, kết tình bằng hữu.

Sau mười năm truy tìm vô vọng ông trở về chùa khổ công tu luyện, rồi trở thành Chưởng môn phái Thiếu Lâm !
Do quá đau lòng vì cái chết của ân sư, râu tóc và lông mày của Bạch Vân đều bạc trắng, dù tuổi mới sáu mươi lăm !

Nay phát hiện lai lịch kẻ thù, Thiền Sư nổi lòng sầu hận, lát sau mới bình tâm được. Ông biết mình không có chứng cứ cụ thể và cũng chẳng đủ bản lãnh báo thù. Song, nếu sử dụng Nam Cung Giao như phương tiện phục hận thì ông cũng chẳng nhẫn tâm.

Thiền Sư điềm đạm nói :
- Lão nạp và đệ tử chùa Thiếu Lâm sẽ tìm cách đòi lại Dịch Cân Kinh, chẳng dám để cho Nam Cung Giao thí chủ phải đương đầu với một đại cao thủ như Long Giác Thần Quân !

Kính Thanh cười xòa :
- Thôi được ! Việc ấy sẽ tính sau, giờ lo chuyện dành tấm bảng sắc phong trước đã !

Bạch Vân thiền Sư lắc đầu :
- Sau khi biết ai là hung thủ sát hại Tiên Sư, lòng lão nạp đã nguội lạnh với thanh danh. Ngày mai dẫu đệ tử Thiếu Lâm có bại thì cũng không sao !

Nam Cung Giao mừng rỡ tán thành :
- Đại sư nhạt mùi danh lợi như thế là đúng tôn chỉ của Phật môn. Xin đại sư ban cho Đại Hoàn Đan để anh em đệ tử sớm trở lại Bắc Kinh !

Bạch Vân Thiền Sư gật đầu, đi vào trong hậu xá để lấy thuốc.

Ở đây, Mộc Kính Thanh giận dữ đay nghiến :
- Đại ca quả là người ngu ngốc, không biết chụp lấy cơ hội ngàn vàng. Nếu học được Liên Hoa Tâm Pháp, bản lãnh đại ca sẽ tăng tiến vượt bậc, vài năm nữa dư sức tranh chức Minh Chủ võ lâm !

Nam Cung Giao cười mát :
- Ta cần quái gì cái chức Minh Chủ ? Lúc ấy suốt ngày ăn cơm nhà, vác ngà voi, bỏ mấy em vợ trẻ đẹp cho ai !

Kính Thanh tức hộc máu, trợn mắt hỏi :
- Vậy là đại ca cũng chẳng hề nghĩ đến chuyện báo thù cho tiểu đệ ?

Nam Cung Giao nheo mắt đáp :
- Ngươi ngu thực ? Ngày mai, chờ Trương Sĩ Hạo đánh nhau với Thiếu Lâm Tự xong, ta sẽ đứng ra khiêu chiến. Hà tất phải lạy lão sư già kia làm thầy ?

Kính Thanh hài lòng nói :
- Như thế cũng được ! Nhưng đại ca nhớ đừng nói nguyên do, nếu không, gã họ Trương sẽ kiện gia sư đấy ! Tiểu đệ cũng ẩn mặt !

Nam Cung Giao gật đầu :
- Được rồi ! Ta sẽ mồm loa mép giải vu oan giá họa cho gã để gây sự ! Nhưng ngươi cũng phải cho ta biết vài yếu điểm của Sĩ Hạo để dễ bề công kích ?

Kính Thanh thở dài :
- Khó đấy ! Trương Sĩ Hạo tướng mạo anh tuấn như cây ngọc trước gió, tính tình trầm tĩnh, trang nghiêm, khí độ rộng rãi, dù vô cớ bị chửi cũng không thèm chấp !
Tóm lại, dường như con người gã không hề có khuyết điểm !

Nam Cung Giao phì cười :
- Một người toàn mỹ như vậy đến giờ vẫn chưa có nữ nhân nào tóm cổ thì cũng lạ ? Hay là gã quá tốt đẹp nên không còn là người nữa ?

Kính Thanh cười khổ :
- Đại ca nói đúng ! Trương Sĩ Hạo như kẻ thuộc về thế giới thần tiên, lạnh lùng cao quí tựa pho tượng ngọc bích, chỉ có thể ngắm nghía chứ không thể ôm mà ngủ được !

Nam Cung Giao ngao ngán :
- Gã nầy khó chơi thực ! Ta lấy cớ gì để khiêu khích đây !

Kính Thanh ấp úng nói :
- Đại ca cứ nói rõ việc mình là rể của gia sư, và giả vờ nổi giận về việc gã đã rình Lâm Bảo Thoa tắm hồi ba năm trước !

Nam Cung Giao giật mình than :
- Có việc ấy sao ? Thế là lỗ vốn rồi, ta chưa được thấy gì mà người ngoài đã xem mãn nhãn ! Chán thực !

Kinh Thanh hốt hoảng biện minh :
- Không phải ! Đêm ấy trăng khuyết y chỉ thấy lờ mờ phía sau thôi !

Nam Cung Giao lừ mắt :
- Phải chăng hôm ấy ngươi cũng rình Bảo Thoa nên mới biết rõ như vậy ?

Kính Thanh cuống quít đáp :
- Tiểu đệ nào đến nỗi khốn nạn như thế ! Điều này do Lâm sư muội kể lại thôi !

Nam Cung Giao bỗng nhớ ra một điều :
- Thế Bảo Thoa tắm ở đâu mà để Sĩ Hạo nhìn trộm ?

Kính Thanh nói lí nhí :
- Ngoài bờ biển.

Nam Cung Giao than trời :
- Chết ta rồi ! Nếu thế thì chắc gì một mình gã họ Trương nhìn thấy ? Nàng ta có thói quen tắm khỏa thân dưới trăng đã nhiều năm, khoảng chừng một nửa dân đảo Chu Sơn đều có cơ hội thưởng lãm! Ta phải quay lại Bắc Kinh hỏi cho ra lẽ mới được ?

Kính Thanh hồn phi phách tán, quì này xuống khóc và lạy lục :
- Tiểu đệ xin đem tính mạng ra thề rằng suốt đời Lâm sư muội chỉ sơ xuất có một lần như thế ! Đại ca mà khinh khi nàng thì Tiểu đệ sẽ chết không nhắm mắt.

Nam Cung Giao phá lên cười sặc sụa, kéo Kính Thanh ôm vào lòng vỗ :
- Ta chỉ đùa mà ngươi tưởng thực sao ? Lòng này còn rộng rãi hơn gã Trương Sĩ Hạo kia nhiều !

Kinh Thanh điên tiết, há miệng cắn mạnh vào ngực Nam Cung, khiến chàng đau đớn thét lên.

Kính Thanh nhẩy lùi, cười đắc ý :
- Lần sau Đại ca còn dám hí lộng tiểu đệ nữa không ?



Bạch Vân Thiền sư ra đến, trao lọ sành đựng ba viên Đại Hoàn đan và một phong thư cho Kính Thanh.

Hai người quì xuống đảnh lễ rồi rời núi Thiếu Thất, trở về phòng trọ trong thành Đăng Phong !

Sáng hôm sau, ăn điểm tâm xong, Kính Thanh ân cần dặn dò :
- Tiểu đệ có mặt không tiện ! Đại ca cứ một mình lên núi, cố mà thắng cho được Trương Sĩ Hạo, dù không chặt chân gã thì cũng chẳng sao. Điều chủ yếu là phải đả bại gã, tuyệt đối không được thua ! Nếu đại ca mà thua thì tiểu đệ sẽ không bao giờ nhìn đại ca nữa ?

Ánh mắt lo lắng của gã khiến Nam Cung Giao áy náy, vội hứa :
- Hiền đệ cứ yên tâm đem thuốc về cho Lâm sư phụ ! Đại ca hứa sẽ làm cho hiền đệ hài lòng !

Kính Thanh nghiêm nghị nói :
- Trương Sĩ Hạo là một kiếm thủ bẩm sinh, trình độ kiếm thuật dễ đạt đến cảnh giới kiếm đạo. Đại ca nhất thiết không được xem thường ! May mà đại ca đã luyện được bốn thành của pho Hư ảo Thần Bộ nên tiểu đệ mới yên tâm để đại ca so tài với gã !

Hai người hẹn gặp lại nhau ở Nam Kinh rồi chia tay.



Kính Thanh đi rồi, lát sau Nam Cung Giao lững thững xách kiếm lần đến chân núi Thiếu Thất. Chàng không thượng sơn mà nhẩy lên chặng ba ẩy cổ thụ đầu sơn đạo nằm hát nghêu ngao, chờ Ngọc Diện Thần Kiếm đến.

Trong hai mươi mấy ngày xuôi Nam, những lúc dừng chân dọc đường, chàng đã cùng Kính Thanh luyện tập pho Hư Ảnh Thần Bộ, đạt đến bốn thành hỏa hầu. Với thân pháp kỳ tuyệt này, Nam Cung Giao rất tự tin vào bản lãnh của mình.
Chàng thầm biết ơn Chu Sơn Đảo Chủ đã cất giùm gánh nặng trong lòng mình.

Mấy tháng nay, tuy không nói ra nhưng tâm hồn chàng luôn chua xót khi nghĩ đến cảnh thảm bại và chết dưới tay Khương Thư Hàn !

Nghĩ đến Bảo Thoa và Tử Phượng, chàng mỉm cười tự nhủ :
- Mới xuất đạo chưa đầy một năm mà ta đã có đến năm cô vợ, biết ăn nói thế nào với mẫu thân đây ?

Chàng lẩm nhẩm thành tiếng :
- Không sao ! Ba lần ba lần chín, cứ cãi chày cãi cối là xong !


Bản cửu chương là do người Trung Hoa sáng tạo ra, đứa trẻ nào bắt đầu học toán cũng đều phải thuộc.



Quá đầu giờ Thìn, Nam Cung Giao nghe tiếng vó ngựa vọng đến, liền nhỏm dậy xem.
Trong đoàn kỵ mã kia còn cách xa đến bẩy tám trượng, song đôi mắt tinh ranh của chàng vẫn nhận ra hai người quen. Đó là Địa Thượng Song Lôi, hộ pháp của Tứ Hải Hội, đã từng xuất hiện ở nhà Đặng Kiệm đất Tô Châu !
Hai lão quỉ này có dung mạo cổ quái chẳng thể nào lẫn vào đâu được. Giờ đây, họ đi sau lưng một hán tử Bạch Y dung mạo tuấn tú như Phan An tái thế, chắc là Ngọc Diện Thần Kiếm Trương Sĩ Hạo.
Chẳng khó gì để hiểu rằng Song Lôi là thủ hạ của họ Trương, họ không dám thúc ngựa đi ngang hàng với gã.

Một ý niệm loé sáng trong đầu Nam Cung Giao :
- Chẳng phải Trương Sĩ Hạo là Hội Chủ Tứ Hải Hội !

Chàng vui mừng khôn xiết vì đã nắm nước thóp đối phương. Do tin rằng không ai biết Địa Thượng Song Lôi là người của Tứ Hải Hội nên Trương Sĩ Hạo mới đưa họ theo. Xui cho gã là Nam Cung Giao lại vô tình có mặt và khám phá ra chân tướng.

Phía sau thầy trò Sĩ Hạo còn có một toán quân triều đình đông độ ba mươi tên, đang hộ tống một chiếc kiệu phủ sa tanh, có lẽ là Tri huyện Đăng Phong. Lão ta đến đây để giám sát cuộc so tài. Rồi báo kết quả về Bắc Kinh !

Nam Cung Giao nhanh chân chuyền sang cây khác, chạy thẳng lên chùa Thiếu Lâm.

Các tăng lữ gác cổng Tam quan vui vẻ hỏi :
- Sao thí chủ còn quay lại đây làm gì ?

Chàng cười đáp :
- Để chặt chân Ngọc Diện Thần Kiếm ! Gã đã đến !

Một tăng nhân vội vả vào chiếc khánh đồng, báo hiệu cho người trong chùa biết mà chuẩn bị !

Đang chờ đợi, nên Bạch Vân Thiền sư và các cao tăng mau mắn ra sân trước của tòa Đại Hùng Bảo Điện, ngạc nhiên vì thấy Nam Cung Giao.

Chàng lướt đến vòng tay chào rồi nói :
- Trương Sĩ Hạo chính là Hội Chủ Tứ Hải Hội, đang bị triều đình truy nã. Lát nữa, đại sư cứ mời phe địch vào dùng trà, rồi tìm cách dẫn lão Tri huyện vào quí tăng xá. Phen này thì bảng vàng sắc phong kia chắc chắn là của Thiếu Lâm Tự.

Thiền sư kinh ngạc trước diễn biến bất ngờ và thuận lợi này, nhíu mày hỏi lại :
- Tiểu thí chủ có nhìn lầm không ?

Nam Cung Giao mỉm cười :
- Chắc Đại sư cũng phong phanh biết đệ tử còn là rể của Nam Kinh Hình Bộ Thượng Thư, xin cứ để đệ tử lo liệu là mọi việc sẽ chu toàn ! Đại sư xem nhẹ hư danh, nhưng hai ngàn tăng lữ Thiếu Lâm sẽ không vui khi thua kém Phổ Đà Tự.

Bạch Vân Thiền sư cảm động đáp :
- Thiện tai ! Thiện tai ! Nam Cung thí chủ quả có tấm lòng Bồ tát. Xin cứ tùy nghi hành động !

Các cao tăng đứng sau cũng nhất tề chắp tay vái tạ !

Nam Cung Giao hổ thẹn rảo bước về phía hậu tự !



Lát sau, Ngọc Diện Thần Kiếm Trương Sĩ Hạo và Tri huyện Đăng Phong là Phương Khiên lên đến.

Địa Thượng Song Lôi và toán sĩ tốt đều ở lại chân núi để gữ ngựa, chỉ có gã sư gia của huyện đường đi theo Phương Khiên.

Bạch Vân thiền sư lập tức nhận ra Trương Sĩ Hạo cốt cách phi phàm, thần thái trang nghiêm, đạo mạo, cử chỉ ung dung, đáng mặt nhân tài.
ông cố tìm tướng xấu trên gương mặt đẹp và đoan chính kia mà chỉ hoài công. Phải chăng trong thân thể y còn có ẩn tướng kỳ dị, nếu không thì chẳng thể là kẻ đại ác được ?

Ông chợt giật mình với ý nghĩ :
- Lạ thực ! Sao ta lại có cảm giác rằng đang chiêm ngưỡng, thẩm định một pho tượng cổ chứ chẳng phải người ? Ánh mắt y dường như vô cảm, nhìn ta mà không thấy ta, miệng cười mà mắt không cười ?

Thiền sư cố dẹp bỏ niềm nghi hoặc, tươi cười mời mọc :
- Chẳng mấy khi Tri huyện Đại nhân giá lâm tệ tự, xin mời ngài và Trương sư diệt vào khách xá dùng chén trà nhạt !
 


Tri huyện Phương Khiên đã hai lần nhờ Thiếu Lâm Tự lo tang ma, cúng kiến cho song thân nên rất kính trọng Bạch Vân phương trượng. Vả lại ông cũng muốn ngôi chùa trong địa hạt mình được sắc phong chứ chẳng phải chùa Phổ Đà xa xôi, lạ lẫm !

Phương Tri huyện vui vẻ đáp :
- Phương trượng đã có lời mời, bổn chức đâu dám từ chối !

Bạch Vân hài lòng, cùng sáu cao tăng đi trước dẫn đường.

Trương Sĩ Hạo vẫn thản nhiên đi theo, chẳng hề tỏ vẻ nôn nóng. Gã khoan thai bước đi trong bộ võ phục gấm trắng tinh.
Trộng gã xinh đẹp và trang nghiêm như một đóa sen trượng đang trôi !

Lạc Ca, theo tiếng Phạn có nghĩa là Bạch Liên. Trương Sĩ Hạo sinh ra, lớn lên trên núi Lạc Ca, có lẽ vì thế mà nhiễm sắc hương .



Vào đến khách sảnh, Bạch Vân thiền sư giới thiệu sáu cao tăng, rồi hỏi thăm gia cảnh Phương tri huyện, chẳng hề đá động gì đến cuộc so tài.

Thấy Sĩ Hạo vẫn an nhiên, chậm rãi nhấp từng hớp trà thơm, ông thầm khen định lực của y.

Nửa khắc sau, Bạch Vân Thiền sư nói với Phương Tri huyện :
- Phương Đại nhân ! Lão nạp vừa được Phương trượng chùa Phật Quang ở Ngũ Đài Sơn tặng cho bức cổ họa Trường Giang Vạn Lý Đồ của Hạ Khuê thời nhà Tống. Chẳng hay Đại nhân có muốn thưởng lãm hay không ?

Phương Khiên cũng là tay nho học tài hoa, và rất mê tranh cổ . Vì vậy, lao đứng phắt lên, mừng rỡ nói :
- Quả là dịp may hiếm có . Từ lâu bỗn chức đã khao khát được chiêm ngưỡng nét bút của thần họa thời nhà Tống !

Thế là lão lôi xộc Bạch Vân phương trượng về tăng xá, cách đấy không xa, bỏ mặc Ngọc Diện Thần Kiếm ngồi lại !

Đến nơi Phương Khiên say sưa ngắm nghía bức tranh, xuýt xoa khen ngợi từng nét thắng bút.
Lão chưa mãn nhãn thì có người thứ ba vào đến.
Chàng trai râu rậm, thân hình cao lớn này mặc bộ võ phục gấm đen thượng hạng, thần thái rất oai vệ. Chàng ta nhìn họ Phương mỉm cười chẳng thèm cúi chào.

Phương Khiên bỡ ngỡ hỏi Bạch Vân :
- Đại sư ! Chẳng hay người này là ai vậy ?

Bạch Vân chưa biết đáp sao thì chàng râu rậm kia đã lạnh lùng tự giới thiệu : .
- Tại hạ là Nam Cung Giao người của Đô Sát Viện.

Và chàng dí mãnh Kim Bài đáng sợ vào mặt Phương Khiên.

Kẻ làm quan, ít người dám tự hào mình tuyệt đối trong sạch, không hề tơ hào công quĩ và của dân. Phương Khiên cũng có chấm mút chút đỉnh nên sợ đến nhũn cả người khom lưng vái dài :
- Ty chức Phương Khiên, Tri huyện Đăng phong, xin bái kiến Đại nhân.

Nam Cung Giao hờ hững đáp :
- Phương túc hạ bất tất phải đa lễ . Tạ hạ chỉ có vài điều muốn hỏi !

Họ Phương cung kính nói :
- Xin Đại nhân chỉ giáo !

- Túc hạ đã nhận được công văn truy nã Tứ Hải Hội của Triều đình hay chưa ?

Phương Khiên cố nén tiếng thở dài, té ra đối phương đến đây vì chuyện này chứ chẳng phải để sách hạch mình !

Lão vội đáp :
- Bẩm Đại nhân có ! Ty chức đã dốc sức điều tra, có thể đoan chắc rằng Tứ Hải Hội không hề hiện diện trong địa phận này ! Vã lại, bọn tà bang kia chẳng dại gì lập sào huyệt hay hoạt động ở gần chùa Thiếu Lâm !

Nam Cung Giao cười nhạt :
- Túc hạ sai rồi ! Gã Trương Sĩ Hạo và hai lão già áo xanh mồm thiên lôi kia chính là người của Tứ Hải Hội ! Tại hạ đã bám theo họ từ Chiết Giang đến tận đây, do Sĩ Hạo là cháu ruột của Đông Hải Thần Tăng chùa Phổ Đà nên tại hạ chẳng thể công khai bắt trói khi chưa tìm ra chứng cớ xác thật . Do vậy, hôm nay tại hạ sẽ dùng thân phận khác đánh đuổi gã, rồi bám theo để tìm sào huyệt. Nhiệm vụ của túc hạ là phải nhất nhất ủng hộ cho ta !

Chàng bất ngờ quắc mắt hỏi :
- Hay là túc hạ đã nhận hậu lễ của Tứ Hải Hội rồi !

Ngón đòn chụp mũ của quan trên đã khiến Phương Khiên tá hỏa tam tinh, mặt tái mét, run giọng mà biện bạch :
- Khải bẩm Đại nhân ? Ty chức có giao tình với Thiếu Lâm Tự, lẽ nào lại nhận lễ của đối phương ! Xin Đạ nhân minh xét !



Tội tư thông vời cường đạo bị xử rất nặng nên Phương Khiên run bần bật, tự nhủ rằng mình đã may mắn khi chẳng nhận được gì của Sĩ Hạo !

Thực ra, nếu họ Trương đưa ra vài nén vàng, để tranh thủ tình cảm thì lão cũng không chê !

Nam Cung Giao gật gù :
- Làm quan mà giữ được đạo liêm chính thì chẳng thể sợ mất đầu ! Túc hạ hãy quay lại khách xá, nói cười tự nhiên, không được để họ Trương sinh nghi !

Nói xong, chàng kể sơ qua kế hoạch của mình !

Phương Khiên vâng dạ, vái dài rồi cùng Bạch Vân Thiền sư rời phòng !

Phương Tri huyện năm nay đã sáu mươi, làm quan được ba chục năm, thạo nghề giữ sắc diện để làm vui lòng quan trên. Dẫu mẹ sắp chết, lão cũng có thể tươi cười đón tiếp Tri phủ Hà Nam, huống hồ gì là việc che mắt Trương Sĩ Hạo ?

Thế là Phương Khiên vui vẻ bảo Sĩ Hạo :
- Bỗn chức mê tranh cổ hơn cả vợ con, làm mất thời giờ của Trương thiếu hiệp ! Thôi thì chúng ta ra sân tiến hành ngay việc tỷ võ cho xong .



Hai phe đi sang mãnh sân rộng cạnh Đình Đạt Ma. Đây là nơi luyện võ hàng ngày của đệ tử Thiếu Lâm.

Ngoài sư sãi, trong chùa lúc nào cũng có gần ngàn đệ tử tục gia, từ bốn phương đến học võ. Thiếu Lâm tự là trường dạy võ lớn nhất, nỗi tiếng nhất Trung Hoa !

Nền của sân luyện võ được lát bằng những viên đá núi. Sau mấy trăm năm, bàn chân người đã làm mòn lrớp đá sù sì, có chỗ còn lõm hẳn xuống, trở thành điểm đánh dấu đường lối bộ pháp cho những người mới nhập môn !



Lúc này, trên sân tụ tập rất đông người. Họ cổ vũ cho hai kẻ đang đánh nhau chí chóe !

Một bên là nhân sư trọc đầu, tuổi gần bốn mươi, to lớn, vạm vỡ, sử dụng trường côn. Bên kia là một tăng nhân cao lớn, y phục thùng thình, lem luốc, râu ria rậm rạp và mái tóc bù xù xoã dài.

Thật khó xác định người này có phải hòa thượng hay không ?
Song vì gã mặc tăng bào xám, nên chúng ta cứ xem như sư sãi !

Gã ta không xử dựng vũ khí mà ngang nhiên dùng quyền cước chống cự với cây côn gỗ cứng rắn, đen bóng .

Pho quyền pháp mà nhà sư tóc dài thi triển chính là Kim Cương Phục Hổ Quyền của Thiếu Lâm.
Đôi tay dài thượt của gã đôi lúc biến thành trào hổ, dũng mãnh uy hiếp lồng ngực đối phương. Còn hai cước thì liên tục búng ra những đòn đá chớp nhoáng, tấn công từ bụng đến gối kẻ địch. Quyền phong vù vù xé không gian, biểu hiện một sức mạnh phi thường !

Nhà sư đầu trọc cũng lợi hại không kém , trường côn vun vút bay lượn, đòn nào cũng nặng nghìn cân !

Thế mà, nhà sư toc dài vẫn đủ sức vừa đánh vừa la hét :
- Đại Lực sư huynh không làm gì được tiểu đệ đâu, mau nhường chỗ cho VÔ Dụng Sa Di này thôi.

Té ra nhà sư không tóc là Đại Lực, vì ông ta khỏe như voi, còn người tóc dài, râu rậm là Sa Di VÔ Dụng.

Thấy Phương trượng Bạch Vân và khách xuất hiện, VÔ Dụng tấn mạnh một trảo, đánh bạt trường côn ra rồi nhẩy lùi, quì xuống gọi :
- Sư Bá Chưởng môn ! Xin người cho phép đệ tứ được đấu với gã kiếm khách mặt trắng kia ! Nếu để Đại Lực sư huynh xuất trận, chắc chắn sẽ bại thôi !

Đại Lực cũng quì lạy :
- Bẩm sư phụ ! Gã điên này không chấp hành mệnh lệnh của Chưởng môn, cứ lằng nhằng tranh giành với đệ tử ? Đã tên là VÔ Dụng thì còn làm gì được nữa ?

VÔ Dụng nghe xong, bất ngờ vung quyền đấm vào vai, khiến đối phương lăn ra !

Đại Lực giận dử thọc cước trả đũa, song VÔ Dụng đã nhẩy lùi cười hể hả :
- Sư huynh có giỏi thì ra đây đấu tiếp .

Đại Lực chụp côn nhẩy đến đánh liền. Gã không còn nương tay nên VÔ Dụng liên tiếp phải khoá hậu, miệng oang oang kêu đau !

Quần tăng đứng ngoài ôm bụng cười ngất trước cảnh náo nhiệt. Đất Phật trang nghiêm, có bao ggờ họ được chứng kiến màn kịch khôi hài thế này đâu ?

Bạch Vân Thiền sư cũng cười, nhưng phải bóp bụng quát :
- Dừng tay !

Ông quay sang nhìn Sĩ Hạo, hài lòng khi thấy ánh mắt gã có lửa giận.

Họ Trương biết phái Thiếu Lâm bày trò hí lộng mình, nhưng không đoán ra chủ ý. Gã cố nhẫn nhục vì tin vào bản lãnh siêu việt của mình.

Trong lúc Bạch Vân rời chỗ, đi quở mắng hai đệ tử thì Phương Tri huyện trổ tài cài bẫy :
- Nhà sư quái dị đầu tóc bù xù kia là đệ tử của Bạch Hải Thiền sư, đã quá cố ! Gã bị mang pháp danh VÔ Dụng cũng vì tính nết gàn dỡ, điên khùng, võ nghệ thì không sánh bằng Đại Lực ! Phái Thiếu Lâm chắc chắn sẽ chọn Đại Lực chứ không chọn VÔ Dụng !

Phía xa xa, cái giọng oang oang của VÔ Dụng cứ vang lên :
- Xin chưởng môn sư bá giữ đạo công bằng cho ! Để đệ tử đánh với Đại Lực Sư huynh xem ai xứng đáng đại diện bổn tự ?

Nói dứt lời, gã lén đá vào mông Đại Lực rồi bỏ chạy !

Đương nhiên, Đại Lực lại rượt theo !



Bạch Vân Thiền sư bối rối, thở dài tỏ vẻ bất lực. Người ngoài sẽ tưởng ông niệm tình sư đệ đã chết nên không dám nặng tay với gã sư diệt điên khùng !
Thực ra, ông bối rối vì không quen diễn kịch, và thầm hổ thẹn .

Ở đây Phương Tri huyện nhẹ nhàng thọc mũi đao mưu kế vào sâu hơn :
- Thiếu hiệp tính sao ? Trời đã sắp trưa rồi hay là thiếu hiệp cứ lần lượt đả bại từng người cho phái Thiếu Lâm phải tâm phục khẩu phục ? Thú thực là bổn chức cũng chẳng ưa gì họ.
Năm ngoái tiên mẫu từ trần, bổn chức đến nhờ họ lập trai đàn, ma chay thì họ từ chối khéo rằng mình là Thiền Tông chứ chẳng phải Tỉnh Thổ Tông !

Trương Sĩ Hạo dù là kẻ cơ trí bậc nhất võ lârn cũng phải lầm trước thủ đoạn của một lão quan già ! Quan trọng còn khốc liệt hơn chốn giang hồ bội phần !

Trương Sĩ Hạo suy nghĩ một lúc, gật đầu đồng ý .

Phương Tri huyện cao giọng gọi :
- Mời Phương trượng đến đây. Trương Thiếu hiệp đã đồng ý lần lượt tỷ đấu với Đại Lực và VÔ Dụng.

Bạch Vân Thiền sư liền quay lại.
Hai đệ tử cứng đầu kia cũng lót tót treo sau !

Ông ngượng ngùng nói :
- Khí độ rộng rãi của Trương thí chủ khiến lão nạp phải hổ thẹn ! Chỉ vì lão nạp dạy dỗ đệ tử không chu đáo nên mới có cảnh rối rắm này. Thôi thì, lão nạp sẽ cho Đại Lực đánh trận đầu, nếu gã thua, VÔ Dụng sẽ đánh trận thứ hai ! Trương thí chủ toàn thắng cả hai, bổn tự nhận bại ! Giữa hai trận, thí chủ có quyền nghỉ ngơi bao lâu cũng được .

Sĩ Hạo điềm đạm đáp :.
- Nếu đệ tử có lỡ tay, mong Đại sư lượng thứ cho !

Không hiểu sao, Bạch Vân Thiền sư lại nghe rợn người ! Ông thở dài, ra hiệu cho Đại Lực, lòng lo lắng không nguôi !

Vì thanh danh của Thiếu Lâm, ông mong mỏi Đại Lực thắng trận, không cần đến bàn tay của Nam Cung Giao. Song giờ đây, ông linh cảm rằng mình đã quá cố chấp ! Đại Lực không những thua mà còn có thể tàn phế hay bỏ mạng, dưới lưỡi kiếm của Sĩ Hạo.

Gã không còn là người khi đã hòa lẫn với thanh thép lạnh lẽo trong tay ! Và thép thì không có lòng nhân !

Thay vì dặn dò đệ tử phải tận lực thắng, Thiền sư lại nghiêm giọng bảo :
- Đại Lực ! Con không được hiếu thắng mà uổng mạng ! Nếu thấy nguy thì phải bãi chiến ngay. Tấm bảng sắc phong kia tuy quí nhưng không thể sánh với mạng người !



Đại Lực là con của đôi vợ chồng tiều phu dưới chân núi Thiếu Thất. Năm gã mười tuổi, song thân bị cây ngã đè chết, được Bạch Vân Thiền sư đem lên núi nuôi dạy.

Đại Lực tuy lỗ mãng nhưng rất hiếu thuận, chẳng bao giờ dám trái ý sư phụ.

Gã gật đầu hứa :
- Ân sư yên tâm ! Đồ nhi cần phải lành lặn để sau này phụng dưỡng người !

Đại Lực cầm côn đi đến trước mặt Trương Sĩ Hạo, xuống tấn thủ rồi nói :
- Thí chủ là khách, xin mời xuất thủ trước !


Sĩ Hạo chỉ khẽ gật đầu, chậm rãi rút kiếm. Thân kiếm bóng loáng như gương, phản chiếu ánh dương quang, rọi vào gương mặt đẹp của Sĩ Hạo. Gã đưa hai ngón tay vuốt dọc lưỡi kiếm, ánh mắt đầy vẻ đắm say.

Bạch Vân Thiền sư và các cao tăng chấn động và hiểu rằng họ Trương đã tiến rất xa trong kiếm đạo. Kẻ mới qua cửa chẳng thể nào đạt đến trình độ say mê một thanh thép vô tri !

Nam Cung Giao cũng biết điều ấy, tự nhủ rằng sau ba năm xa cách, trình độ kiếm thuật của Sĩ Hạo đã vượt xa sự ước lượng của Kính Thanh.
Chàng đánh giá họ Trương còn cao hơn cả Khương Thư Hàn.

Lúc này, Ngọc Diện Thần Kiếm đã xuất thủ. Thân hình gã chỉ còn là một bóng trắng lượn lờ giữa lưới côn vũ bão của Đại Lực.

Trường côn thường có chiều dài bằng độ cao từ đất đến chân mày, vì nếu dài hơn, đầu côn sẽ vướng mặt đất trong những đòn đảo luân. Lúc ấy, tay người võ sĩ đặt ở điểm trường côn và khi ấn nó quay tít như bánh xe. Thủ pháp này dùng để chống đỡ ám khí, tên nỏ rất hữu hiệu !

Nhà sư Đại Lực vóc người vạm vỡ, khí lực dồi dào, lại khổ luyện pho Thiếu Lâm Trường côn đã hơn hai chục năm nên bản lãnh cao cường nhất trong đám đệ tử đời thứ hai.

Lần này, được giao phó trọng trách, Đại Lực đem hết sở học ra thi thố, quyết dành vinh dự về cho môn phái . Lòng nhà sự chất phác này vẫn không tin rằng mình có thể thua được.

Lúc nãy đánh với VÔ Dụng, Đại Lực chưa dồn hết sức, giờ mới thực sự là quyết đấu. Thanh Trượng trong tay gã biến hóa phi thường, sống động như Thần Long chứ chẳng phải là khúc gỗ chết.
Đòn Hoành Tảo thì mãnh liệt như sóng dữ, đòn Điểm Nhãn hiểm ác hơn Độ Xà, đòn áp Đỉnh nặng tựa núi đổ.

Thế nhưng, Ngọc Diện Thần Kiếm Trương Sĩ Hạo vẫn ung dung chống đỡ, rồi phản công ngay chứ chẳng hề nhượng bộ.

Tiếng thép chạm gỗ vang lên không dứt, và xem ra cây côn dài, nặng kia chẳng hề chiếm ưu thế trước thanh kiếm mỏng manh.

Đường kiếm của họ Trương nhanh như chớp giật, kiếm ảnh sáng bạc bay lượn quanh thân gã, chận đứng những đường côn ngời sáng, và xuyên qua màn côn ảnh dầy đặc mà uy hiếp thân trước đối thủ.

 

Lạc Ca kiếm pháp của Phổ Đà Tự quả danh phù kỳ thực ! Lúc thủ thì như búp sen kín đáo, lúc công kiếm ảnh vươn dài tựa những hoa sen xoè nở, trông cực kỳ diễm lệ !

Mỗi lần Sĩ Hạo tiến lên thì Đại Lực phải thoái bộ, giữ khoảng cách để phát huy uy lực của Trường côn. Nếu để đối phương nhập nội thì gã sẽ bị hạ phong ngay !

Nam Cung Giao, trong vai Sa Di VÔ Dụng, chăm chú quan sát đường kiếm tuyệt luân của Trương Sĩ Hạo, ánh mắt đắy vẻ say mê, hứng khởi.
Kiếm pháp kia cũng toàn bích, mỹ miều như bản thân họ Trương vậy !



Đã hơn trăm chiêu trôi qua, mà vẫn chưa phân thắng bại, song mồ hôi đã ướt đầm trán và lưng áo Đại Lực.

Gã đã phải dốc toàn lực mới cầm cự nổi đến giờ này. Trong lúc ấy gương mặt đẹp tuyệt thế của Sĩ Hạo vẫn an nhiên, tươi tắn, cứ như nãy giờ gã chẳng hề dùng đến sức lực.

Cho rằng biểu diễn như thế đã đủ, Trương Sĩ Hạo mỉm cười lạnh lẻo, đảo bộ lao vút vào lưới côn.
Thanh bảo kiếm của gã đâm chém liền hàng trăm thế, kiếm ảnh trùng trùng điệp điệp,
khóa chặt trường côn và ập vào người Đại Lực !

Chiêu kiếm kỳ tuyệt vô song này đã khiến Bạch Vân Thiền sư rụng rời tay chân, quát vang :
- Đại Lực lui mau !

Tiếng gọi của ông quá muộn màng vì mũi kiếm đã chạm vào người Đại Lực.
Vai và bụng của gã trúng bốn kiếm sâu hoắm, và ngực trái dường như là mục tiêu cuối.

Quần tăng chết điếng người, miệng há hốc chẳng kịp kêu la, chứ đừng nói đến can thiệp. Song xem ra mạng của Đại Lực còn dài nên trước đó đã có bóng người bay vút vào, nắm áo gã giật ngược lại, và vung kiếm điểm liền chín nhát vào mặt và ngực Sĩ Hạo.

Họ Trương đành phải bỏ lỡ cơ hội giết Đại Lực, xoay kiếm bảo vê bản thân, rồi thoái hậu.

Quần tăng hoan hỉ reo hò như sấm dậy vì thấy Sa di VÔ Dụng đã kịp cứu mạng Đại Lực. Có năm sáu người đã nhanh chân chạy đến đỡ kẻ bị thương khiêng vào chăm sóc.

Bạch Vân Thiền sư vốn thương yêu Đại Lực như con mình nên đích thân xem xét thương thế.
Ông mừng đến ứa nước mắt vì biết bốn vết thương kia không thể giết được đồ đệ mình.

Đạ Lực buồn rầu nói :
- Sư phụ ! Đồ nhi đã tận lực nhưng không địch lại đối phương !

Thiền sư vỗ về :
- Ngươi còn sống là tốt lắm rồi !

Trong lúc ấy, Sa Di VÔ Dụng đang cười nói huyên thuyên.
Gã vòng tay xá thật lâu, vui vẻ nói :
- Mong thí chủ lượng thứ cho hành động của bần tăng ! Nếu để gã Đại Lực kia chết đi thì chẳng còn ai cùng bần tăng lén xuống núi uống rượu nữa. Vả lại, trước cửa Phật mà sát sinh thì tội lỗi vô cùng !

Trương Sĩ Hạo mỉm cười gật đầu, tra kiếm vào vỏ, đi về phía nột gốc cây, ngồi xuống vận công điều tức.
 


Sau lần chạm kiếm với VÔ Dụng, Trương Sĩ Háo đã phát hiện gã sư điên khùng kia tuy râu ria bờm xờm nhưng tuổi chưa quá tam thập, mà lại sở hữu không dưới ba mươi năm công lực ! Đồng thời, chín nhát kiếm lúc nãy ảo diệu tuyệt luân, chẳng thể xem thường !

Sĩ Hạo lờ mờ hiểu rằng VÔ Dụng mới là đối thủ chính của mình. Vì thế, gã quyết định điều tức thật lâu, phục hồi trọn vẹn công lực mà đối phó với nhà sư điên .

Người đời không thể biết rằng Ngọc Diện Thần Kiếm cũng có khuyết điểm, đó là sự hiếu thắng và tự tôn, dù bề ngoài gã rất khiêm cung, rộng lượng !

Sĩ Hạo không bao giờ chấp nhận thất bại hoặc thua kém ai, trừ những cao thủ thành danh như Đông Hải Thần Tăng, Chu Sơn Đảo chủ, Long Giác Thần Quân.

Họ Trương còn có vài tật xấu khác nữa là say máu, và say mê chính bản thân mình !
Sĩ Hạo đã xuất thủ là muốn được nhận thấy máu của đối thủ nhuộm đỏ kiếm của mình và nhỏ từng giọt tươi thắm xuống mặt đất.
Gã tự tôn nên chăm chút bản thân thành một người toàn mỹ, và tin rằng vượt lên trên đồng loại !
Sĩ Hạo thầm tiếc rằng mình chỉ có bốn mươi năm chân khí, nếu được tròn hoa giáp, gã sẽ khiêu chiến với gã Long Giác Thần Quân, Chu Sơn Đảo Chủ, đả bại họ mà trở thành Đệ nhất cao thủ !

Ngoài ra, Sĩ Hạo còn nuôi một mơ ước nho nhỏ nữa, đó là trở thành Hoàng Đế Trung Hoa ! Ngai vàng mới là chiếc ghế vừa vặn với con người siêu việt như gã !



Ba khắc sau, Sĩ Hạo mở mắt đứng lên, bước ra sân chờ đợi.

VÔ Dụng đang huyên thuyên với đám sư sải trẻ, đủng đỉnh vác kiếm đi tới.
Gã khom lưng chào và nói :
- Bần tăng tuổi nhỏ hơn thí chủ, xin được phép ra tay trước !

Sĩ Hạo gật đầu, hai tay nắm chặt chuôi, dựng đứng trường kiếm trước mặt và lệch về bên hữu mà chờ đợi.

Đây là tư thế khởi đầu đặc trưng của kiếm thuật Phù Tang !
Họ Trương đứng im bất động như tượng đá, trầm ổn vững vàng tựa Thái Sơn, đối phương chưa động thì gã không động !

Nam Cung Giao, tức VÔ Dụng phát hiện thức kiếm kia tuy thông thường, đơn giản nhưng cực kỳ kín đáo và dàn dụa sát cơ. Trường. kiếm của họ Trương đánh bằng hai tay sẽ mạnh như chẻ núi chứ chẳng chơi...

Chàng định chọc ghẹo khiến đối phương phân tâm, song lại thôi .

Trong tư cách kiếm sĩ họ Trương là người đáng kính phục. Chàng sẽ giao đấu với gã bằng bản lãnh chân chính của mình !

Nam Cung Giao cong tay, chĩa lưỡi kiếm về phía trước, thẳng băng như mũi tên nằm trên dây cung , hai ngón trỏ và giữa của tay tả đặt xéo trước ngực.

Trong tư thế ấy, thân hình chàng lướt đi bằng hai đầu bàn chân, vươn trôi về phía đối phương.

Bên kia, Sĩ Hạo cũng đã động thân, lao đến đón đầu, nhãn quang lập loè sát khí.

Diễn tả thì lâu nhưng sự việc xảy ra chỉ trong thời gian vài cái chớp mắt.

Trường kiếm của Nam Cung Giao vươn hết tầm tay điểm liền ba mươi sáu thức khống chế vùng mặt, ngực, bụng họ Trương.

Sĩ Hạo chặt xéo một kiếm sấm sét vào màn kiếm ảnh của kẻ địch, rồi nối tiếp hằng mười bảy thế nữa. Mười tám thế thức này nhanh như thiểm điện và ảo diệu phi thường.

Với công lực thâm hậu hơn, Sĩ Hạo đã đánh bật được trường kiếm của Nam Cung Giao, và kết liễu bằng cách thọc kiếm vào ngực chàng.

Song, khi mũi kiếm của gã vừa chạm vào lớp vải áo thì Nam Cung Giao đã biến mất bằng một bộ pháp thần kỳ.

Trong chớp mắt, chàng đã rời xa tầm kiếm của Sĩ Hạo, và từ vị trí mới ập vào tấn công.

Sĩ Hạo thấy đối thủ thoát được chiêu kiếm tuyệt diệu của mình lòng rất khâm phục và cao hứng. Bản lãnh nạn nhân càng cao siêu thì chiến thắng của gã càng vinh quang !

Ngọc Diện Thần Kiếm buông tay tả khỏi chuôi, vung kiếm phải phá giải chiếu kiếm của Nam Cung Giao.

Tiếng thép chạm nhau gay gắt, song phương quấn quít như tình nhân, liên tiếp tung ra những đường kiếm ác liệt .
Kiếm quang lấp loáng, kiếm ảnh trùng điệp, khiến người xem phải hoa mắt.

Sau khi luyện Hư Ảnh Thần Bộ, Nam Cung Giao đã phải thay đổi tư thế, trong yếu quyết Phiên Dực Tung Phi.
Giờ đây, thân hình chàng mềm mại, uyển chuyển hơn trước để phối hợp với những bước hoán vị thần tốc. Song, khi đối diện chiết chiêu, người chàng vẫn xoay dọc như cũ.

Sĩ Hạo có tu vi cao hơn hai bậc, khiến Nam Cung Giao sẽ thiệt thòi bởi những đòn ngự kiếm như chiêu đầu chẳng hạn. Do vậy chàng bám riết lấy, buộc y phải chấp nhận cuộc giáp chiến dai dẳng.

Sĩ Hạo cũng hiểu ý đồ của gã sư quái dị kia nhưng vẫn thản nhiên chấp nhận. Gã luôn tự tin rằng mình là tay khoái kiếm số một võ lâm !

Hơn nữa, pho kiếm pháp mà đối phương sử dụng có lộ số và kiếm ý rất khác thường. Có thể không phải là của Thiếu Lâm Tự ! Họ Trương say mê kiếm thuật một cách điên cuồng nên không bỏ lỡ cơ hội tìm hiểu.

Đã hơn hai trăm chiêu trôi qua mà chưa có chiếc áo nào bị rách, song trên trán và sóng mũi của Nam Cung Giao đã lấm tấm mồ hôi.

Tu vi của chàng kém hơn, tất nhiên phải sớm mệ mỏi. Song nãy giờ, chàng cũng mang tâm trạng giống như đối thủ. Nam Cung Giao cũng muốn nghiên cứ pho Lạc Ca kiếm pháp lừng danh của Phổ Đài Sơn .
Chàng còn phải vào hổ huyệt để cứu Tử Phượng nên không thể để bản thân thọ thương được ! Chàng sẽ hạ thủ Sĩ Hạo mà vẫn an toàn vì một vết thương sẽ cản trở việc quan trọng sắp tới.

Đến chiêu thứ ba trăm lẻ, Nam Cung Giao bất ngờ xuất chiêu Cô Điểu Nhập Vân, nương theo đám mây thép ập vào !

Trương Sĩ Hạo đã từng gặp chiêu này lúc nãy nên không hề sợ hãi, vung kiếm giải phá. Chẳng những thế, gã còn định kết liễu đời đối thủ ngay trong lần chạm kiếm này !

Với căn cơ thông minh tuyệt đỉnh, và khí chất của một kiếm thủ bẩm sinh, Sĩ Hạo mau chóng tìm ra sơ hở của một chiêu kiếm, khi kẻ địch thi thố đến lần thứ hai thì hoàn toàn mất tác dụng và trúng mạng !

Chiêu Cô Điểu Nhập Vân của Nam Cung Giao lại chỉ có một thế là thực, ai không biết thì sợ, chứ biết rồi thì vô dụng !

Trương Sĩ Hạo lạnh lùng công phá vào đám mây mù lấm tấm những vệt đen mờ kia, và thọc nhanh mũi kiếm vào ngực kẻ địch.

Lúc này Nam Cung Giao mới thi triển bước chót của Hư ảnh Thần Bộ.
Thân hình chàng dời sang mé tả nhanh đến nỗi trong mắt của họ Trương thì bóng ảnh chàng vẫn còn ở chỗ cũ.

Tất nhiên, mũi kiếm của sĩ Hạo đâm vào khoảng không. Gã kinh hoàng đảo bộ, rút kiếm về thủ thân, song đã quá muộn !
Gã tuyệt vọng vung tay tả, cố đánh bạt lưỡi kiếm đang uy hiếp lồng ngực.
Phản ứng thần tốc này đã bảo vệ được mạng sống, song bốn ngón tay của Sĩ Hạo đứt lìa, rơi xuống mặt sân.

Khiếp đảm trước thân pháp quỉ dị như u linh của đối phương, Sĩ Hạo tung mình rời đấu trường.

Tiếng hoan hô của hàng ngàn tăng lữ Thiếu Lâm làm chấn động cả rừng cây tĩnh mịch trên sườn núi Thiếu Thất !

Sĩ Hạo cố nén lòng căm thù, điểm huyệt chỉ huyết.

Bạch Vân Thiền sư thấy y bị tàn phế một tay, bất nhẫn bước đến nói :
- Trương Sư điệt hãy vào trong để lão nạp băng bó cho.

Sĩ Hạo quắc mắt mắng :
- Lão trọc già đừng giả nhân giả nghĩa ! Mối thù này bổn nhân sẽ đòi lại gấp mười !

Bạch Vân ngượng ngùng đình bộ, Sĩ Hạo cười nhạt hỏi Nam Cung Giao :
- Ngươi giả ngây giả dại cũng khéo đấy ! Nếu còn biết nhục thì hãy nói thực cho ta biết lai lịch hai pho kiếm pháp và thân pháp kia !

Nam Cung Giao chẳng thể làm mất mặt chùa Thiếu Lâm, đành phải tiếp tục đóng kịch. Chàng cưòi nhăn nhở :
- Thí chủ đâm thủng bốn lỗ trên người Đại Lực, giờ mất bốn ngón tay xem như huề sao lại tức giận nói càng, còn gì danh dự của Ngọc Diện Thần Kiếm ? Công phu mà bần tăng thi triển chính là tuyệt học phái Thiếu Lâm, có tên là Giáng Ma Tứ Hải kiếm pháp ! Còn pho thân pháp thì được gọi là Bồ Tát Quí Hải Thần Bộ !

Sĩ Hạo chột dạ trước hai cái tên công phu có ám chỉ đến Tứ Hải Hội, chẳng lòng dạ nào ở lại, lặng lẽ phi thân xuống núi ! Gã đã thầm thề rằng sẽ đốt sạch cơ ngơi của chùa Thiếu
Lâm và bằm thây Vô Dụng ra ngàn mảnh.

Bạch Vân Thiền sư thở dài :
- Không ngờ tám chữ Hộ Quốc Vĩnh Thọ Thiếu Lâm Thiền tự lại gây ra môi thù sâu giữa bổn tự và chùa Phổ Đà !

Nam Cung Giao nghiêm trang nói :
- Nếu Đông Hải Thần Tăng nổi giận khiêu chiến với chùa Thiếu Lâm, thì xin phương trượng cứ gởi thư đến phủ Mã Thượng Thư ở Nam Kinh. Đệ tử sẽ đứng ra đối phó với ông ta !

Bạch Vân hổ thẹn, chắp tay lên ngực vái :
- Ơn tương trợ lần này, bổn tự còn chưa biết đền đáp cách nào, đâu dám phiền đến ngọc giá của thí chủ nữa ! Lão nạp tự tin sẽ đối phó được .

Nam Cung Giao vòng tay cáo từ, được quần tăng đáp lễ rất kính cẩn.
Họ yêu mến chàng vì ơn, và cũng vì bản tính vui vẻ, dễ thân cận !

Song chàng chưa kịp rời núi thì có tiếng quát trầm trầm :
- Mong tiểu thí chủ lưu bước !

Chàng ngỡ ngàng nhìn về góc Đình Đạt Ma, nhận ra một lão hòa thượng gầy gò, râu dài quá rốn, bạc trắng như tuyết.

Quần tăng nhất tề phục xuống gọi :
- Sư Thúc tổ ! Cao sư tổ ! Cao Tăng Bá Tổ... !

Họ xưng hô loạn xạ như thế và quần tăng gồm đến mấy đời đệ tử.

Bạch Vân Phương trượng và sáu sư đệ không quì, chỉ vái sâu, Bạch Vân hỏi :
- Sư thúc xuất quan từ lúc nào ?

Lão hoà thượng cười hòa ái, để lộ hàm răng đã rụng vài chiếc :
- Lão nạp đang toạ thiền, chợt thấy lòng xao xuyến, biết bổn tự gặp nạn nên đã xuất quan. Nãy giờ, bổn toạ ngồi trên nóc đình quan sát, may mắn được thưởng lãm hết từ đầu đến
cuối.

Nói xong, lão đưa tay vẫy Nam Cung Giao :
- Tiểu thí chủ hãy lại đây !

Biết lão ta là sư thúc của Phương trượng chùa Thiếu Lâm, chàng vội.bước đến, quỳ xuống cung kính đãnh lễ :
- Đệ tử Nam Cung Giao khấu kiến lão Thần tăng !

Lão hòa thượng cười bảo :
- Tiểu thí chủ đừng đa lễ, lão nạp đã thành Phật đâu.

Bạch Vân Phượng trượng lên tiếng :
- Nam Cung thí chủ ! Đây là sư thúc của bần tăng, tuổi đã ngoài trăm, pháp danh là Thiền Sơn.

Lão Hòa thượng nghiêm giọng :
- Phiền tiểu thí chủ gỡ bỏ râu giả để lão nạp được thấy chân diện mục.

Nam Cung Giao vội tháo râu cằm, râu mép và lông mày giả, dùng ống tăng bào lau sạch những vết nhọ trên mặt.

Thiền Sơn ngắm nghía một lúc, gật gù nhận xét :
- Tiểu thí chủ là kẻ ranh mãnh, háo sắc, phóng đãng và liều lĩnh. Song bản chất nhân hậu, trượng nghĩa . Nay, trước mặt người của Phổ Đà tự, tiểu thí chủ đã nhận mình là đệ tử Thiếu Lâm, chẳng hay giờ đây có đồng ý gọi lão nạp là sư phụ hay không ?

Quần tăng ồ lên kinh ngạc và mừng cho Nam Cung Giao.

Thiền Sơn là trưởng lão cao niên nhất chùa, luyện võ đã hơn chín mươi năm, bản lãnh chẳng còn có thể đo lường được nữa !

Kính Thanh đã tiết lộ với Bạch Vân Phương trượng việc Nam Cung Giao không có sư phụ , nên giờ đây, chàng đâu dám mượn cớ đó mà chối từ.
Thực lòng, chàng cũng hiểu rằng đây là cơ hội ngàn năm có một, song, sợ phải ở lại đây học võ, không đi cứu Tử Phượng được nên rất phân vân !

Chàng ấp úng đáp :
- Bẫm lão Thần tăng ! Đệ tử rất vinh dự được thụ giáo song chẳng thể xuất gia, và chỉ lưu lại được vài hôm thôi.

Thiền Sơn đại hòa thượng phì cười :
- Thí chủ mà xuất gia được thì thiên hạ thái bình ! Còn về thời gian, với bản lãnh sẵn có, thí chủ chỉ cần học nghề của lão nạp vài ngày là đủ !


Quần tăng yêu mến chàng nên lên tiếng đốc thúc, sợ chàng bỏ lỡ dịp may hiếm có .

Nam Cung Giao quì xuống, dập đầu lạy chín lạy :
- Đồ nhi xin khấu kiến ân sư !

Hơn ngàn tăng lữ mừng rỡ reo hò, chúc mừng cho chàng trai tốt số !

Nam Cung Giao đứng lên thi lễ với Phương trượng và sáu cao tăng hàng chữ Bạch, gọi họ là sư huynh !

Tri huyện Phương Khiên cũng hồ hởi chúc tụng, và xin phép cáo từ !

Nam Cung Giao nghiêm giọng :
- Sự việc hôm nay mong Phương túc hạ phải tuyệt đối giữ kín cho .

Phương Khiên vội thề rằng dẫu chết cũng chẳng hé môi.

 



Nam Cung Giao theo Thiền Sơn trưởng lão về nơi cư ngụ của lão ở hậu sơn, trong khu rừng trúc xanh um.

Sau bữa cơm trưa, Thiền Sơn hỏi han, và chàng thực thà kể lại lai lịch và hành vi của mình. Chàng cũng không giấu việc mình sắp phải vào sào huyệt của Hồ Bang để cứu Đinh Tử Phượng và đứa con trong bụng.

Thiền Sơn thích thú lắng nghe, cười vui vẻ và không trách học trò quá lăng nhăng tình ái ! Ông lại hỏi kỹ về cục diện võ lâm hiện tại.

Cuộc chuyện trò kéo dài đến tận bữa cơm chiều mới dứt.

Thiền Sơn tủm tỉm bảo :
- Thực ra, lão nạp nhận ngươi làm đệ tử cũng là xuất phát từ lòng ích kỷ ! Chu kỳ kiếp nạn của Thiếu Lâm đã đến, chỉ có ngươi mới cứu vãn nỗi ! Lão nạp đã đứng ngoài luân hồi,chẳng thể nhúng tay vào chuyện hồng trần mà gây nghiệp quả, đành phải phó thác cho ngươi. Để đền bù, lão nạp sẽ truyền hết tuyệt học thượng thừa của Phật Môn, là pho Bồ Đề Tâm Kiếm và nội công Liên Hoa Tâm Pháp.
Do ngươi còn nhiều việc cấp bách phải làm ngay, nên lão nạp sẽ dạy trước cho một chiêu kiếm để phòng thân. Sau này có cơ hội sẽ học thêm !

Nam Cung Giao cười đáp :
- Đồ nhi đã quyết định nhân lúc Hồ Bang cúng cô hồn mà cứu Đinh Tử Phượng thoát nạn ngay đêm rằm. Vậy là đồ nhi còn rãnh cả chục ngày, xin sư phụ dạy thêm vài chiêu nữa !

Thiền Sơn trưởng lão cười mát :
- Bồ Đề Tâm Kiếm tuy chỉ có bốn chiêu, song mối chiêu đều uyên thâm, hoằng đại phi thường ! Lão nạp phải mất năm chục năm nghiên cứu kinh văn mới luyện thành ! Nay lão nạp thâu tóm tinh túy, tận tay chỉ dẫn từng thức để ngươi dễ dàng lĩnh hội, nhưng chưa chắc trong vòng mười ngày ngươi đã luyện xong chiêu đầu !

Nam Cung Giao lắc đầu, le lưỡi :
- Khó đến thế ư ? Thôi thì hài nhi sẽ cố để không phụ lòng ân sư !



Sáng hôm sau, Thiền Sơn trưởng lão bắt đầu dạy chiêu Vô Thủy Vô Minh cho học trò.

Trước tiên, ông thi triển để Nam Cung Giao thưởng lãm.
Lão hòa thượng cầm kiếm gỗ, bảo Nam Cung Giao thử giải phá khi ông xuất thủ.

Chàng kinh hãi nhận ra chung quanh là màn sương u ám mù mịt, lạnh giá căm căm, và những luồng kiếm kình vô hình rít lên như xé lụa, ập đến uy hiếp toàn thân.

Chàng vội dồn toàn lực vào chiêu Vạn Diệp Tế Hoa, dệt màn thép kín đáo quanh người. Song mũi kiếm vô thanh vô ảnh kia đã chạm vào sáu vị trí trên ngực và bụng chàng !

Màn kiếm ảnh tối tăm chợt biến mất và ánh dương quang lại hiện ra !

Nam Cung Giao không ngờ trên đời lại có một chiêu kiếm mầu nhiệm đến mức này, và mình sắp được học.

Chàng hân hoan quì xuống đãnh lễ :
- Kiếm pháp Phật môn nhiệm mầu vô lượng. Chắc kiếp trước đồ nhi đã dày công tu hành, gõ thủng mấy trăm cái mõ nên kiếp này mới được làm đồ đệ của ân sư ! Đồ nhi cho rằng ân sư xứng đáng với danh hiệu Cổ Kim Chi Đệ Nhất Kiếm Vương.

Tuy tu hành, thiền định gần trăm năm, song Thiền Sơn chưa đạt đến bản thể chân như tuyệt đối, nên lòng vẫn thoáng vui khi nghe học trò tán tụng ! Công lao luyện kiếm năm mươi năm, nay mới có người tán thưởng, tuy hơi ngoa nhưng ánh mắt và vẻ mặt Nam Cung Giao đầy vẻ thành kính !

Thiền Sơn trưởng lão thầm nghĩ :
- Phật kiếm cũng thâm huyền như Phật pháp, lẽ nào lại không đứng trên tất cả. Gã tiểu tử này cũng có lý !

Ông hắng giọng giảng giải :
- Bồ Đề là tiếng Phạn, có nghĩa là giác ngộ, pho kiếm này là tuyệt học do Đạt Ma Tổ Sư sáng tạo ra. Vì nóquá huyền diệu, thâm sâu nên trong suốt mấy trăm năm chỉ có vài người luyện thành. Hiện nay, lão nạp cũng là người duy nhất hiểu được. Với chiêu Vô Thủy Vô Minh này, ngươi có thể yên tâm đối phó với những cao thủ có dưới hoa giáp tu vi. Nếu ngươi thường xuyên khổ luyện, uy lực của kiếm chiếu ngày càng tăng tiến.



Từ đấy, Nam Cung Giao dốc sức rèn luyện dưới sự chỉ bảo tận tình của Thiền Sơn.

Tình cảm cũng phát sinh giữa hai thầy trò, trò chuyện rất tương đắc, và đầy ắp tiếng cười.

Trong lúc hàn huyên, Nam Cung Giao buột miệng nói :
- Ân sư tuổi đã ngoài trăm, lại chay tịnh kham khổ, e rằng chẳng thọ được mấy năm nữa ! Lúc người lìa xác nhập niết bàn, đồ nhi sẽ cho xây một bảo tháp dát toàn vàng để lưu giữ xá lợi của ân sư.

Thiền Sơn cảm động nhưng lại nói :
- Lúc ấy lão nạp đã chết toi rồi, còn cần tháp vàng hay bạc làm gì nữa !Ngươi có dư vàng thì cúng dường để tu bổ chùa chiền, tượng Phật có hay hơn không ?

Nam Cung Giao hớn hở đáp :
- Đồ nhi xin tuân mệnh ! Hoàng Đế Minh Anh Tông đã ban thưởng cho đồ nhi vạn lượng vàng để đền ơn đồ nhi đã cho ông ta thưởng thức món chó mực con hầm bát bửu. Nay đồ nhi xin tặng cả cho chùa nhà !

Số vàng quá lớn, và tính hào phóng của đồ đệ đã khiến Thiền Sơn hài lòng. Mấy chục năm nay, ông chỉ lo tu luyện, chẳng giúp ích gì cho chùa Thiếu Lâm. Nay học trò ông hành động như thế vô tình đã giúp ông trả món nợ áo cơm cho môn phái !

Thiền Sơn khen phải, dẫn Nam Cung Giao lên gặp Bạch Vân Thiền sư.

Phương trượng đang cùng các sư đệ uống trà và nghe Quản sự Tăng của chùa là Bạch Giác báo cáo chi thu.

Thấy sư thúc giá lâm, bẩy vị cao tăng vai vế chữ Bạch vội đứng lên thi lễ, và mời ngồi.

Thiền sư xua tay hóm hỉnh nói :
- Phải chăng Phương trượng vàcác sư điệt tính toán xem thầy trò lão nạp ăn mỗi ngày hết bao nhiêu cân gạo chứ gì ? Lão nạp xui xẻo nên thu nhằm gã đồ đệ chết đói, mỗi bữa ăn đến hơn đấu gạo !

Quả thực là phạn lượng của Nam Cung Giao đã khiến mọi người phải khiếp sợ. Món chay lại thiếu năng lượng nên chàng phải ăn rất nhiều cơm mới đủ sức luyện kiếm và khinh công.

Đúng là lúc nãy Quản sự tăng Bạch Giác đã có ý phàn nàn về việc chi phí trong mấy ngày đầu tháng này đã cao hơn thường lệ !

Bạch Vân Phương trượng ngượng ngùng đáp :
- Sư thúc quả khéo đùa, bọn tiểu điệt nào có ý ấy ?

Thiền Sơn cười khà khà :
- Lão nạp suốt đời báo hại Thiếu Lâm Tự, chỉ biết ăn chứ không biết làm, cày cuốc chưa hề sờ đến. May thay, lúc sắp chết lại có đồ đệ trả nợ giùm ! Giao nhi định cúng dường vạn lượng hoàng kim cho bổn tự, mong các sư điệt vui lòng nhận giùm cho !

Bẩy vị Thiền sư ngơ ngác, tưởng lão sư thúc giở chết kia diễu cợt họ.

Song Nam Cung Giao đã kính cẩn đặt xuống bàn một xấp ngân phiếu dầy cộm, và tủm tỉm nói :
- Gia sư đã dạy tiểu đệ dâng số vàng nhỏ mọn này để Phương trượng sư huynh mua vài cân sơn tô tượng và ít ngói để dặm dá những chỗ dột nát.

Cách nói khiêm tốn, khôi hài của chàng khiến chư tăng hoài nghi. Biết đâu xấp ngân phiếu kia chỉ toàn những tờ mười lạng bạc ?

Với thân phận cao quí của Chưởng môn, Bạch Vân Thiền sư chẳng bao giờ tự tay nhận tiền, và đấy là nhiệm vụ của Bạch Giác.

Vị Thiền sư này chẳng bao giờ tọa thiền được quá nửa canh giờ song lại nhớ vanh vách từng khoản chi thu trong tháng, thậm chí trong năm mà không cần phải dở sổ sách ra xem lại. Với tài năng ấy, ông ta mới có thể quản lý được hoạt động tài chính của ngôi chùa vĩ đại, đệ tử đông đảo này !

Bạch Giác thò tay nhặt xấp ngân phiếu, mở ra xem.
Lão bàng hoàng nhìn giòng chữ Hoàng kim Nhất Thiên lượng, nơi phát hành là quốc khố ở Bắc Kinh, có mười tờ như thế, tổng cộng đúng vạn lượng.

Bạch Giác run giọng :
- Bẩm Phương trượng sư huynh ! Quả thực là Nam Cung Giao sư đệ đã cúng dường vạn lượng vàng !

Bạch Vân chấn động vì bất ngờ và hoan hỉ, liền tán dương :
- Thiện tai ! Thiện tai ! Công đức vô lượng ! phật tổ sẽ chứng giám cho tấm lòng thành của sư đệ !

Nam Cung Giao cười đáp :
- Tiểu đệ lỡ gây nhiều nghiệp chướng nên phải cố mà tạo quả phúc.
Vàng này do Thiên tử ban cho, tiểu đệ mượn hoa hiến Phật đấy thôi !

Chàng quay sang Bạch Giác Thiền sư lễ phép nói :
- Mong sư huynh thương tình, mua cho tiểu đệ vài vò rượu, tiểu đệ sắp chết thèm rồi !

Bạch Giác hồ hởi đáp :
- Tất nhiên là sẽ có ! Song chẳng hay sư đệ thích loại rượu nào. Thiệu Hưng hay Sơn Tây Phồn Tửu ?

Thiền Sơn phì cười, kéo tay Nam Cung Giao :
- Đi thôi đồ đệ ! Ngươi ở lại một lúc nữa, không chừng Bạch Giác sẽ hỏi ngươi muốn ăn thịt chó hay thịt dê !
 




Nóng lòng đến Trịnh Sơn cứu Tử Phượng, Nam Cung Giao đã cố học xong đường lối căn bản của chiêu Vô Thủy Vô Minh trong vòng chín ngày.

Sáng mười ba tháng bẩy, chàng xin phép sư phụ được rời núi.
Chín ngày qua dù ngắn ngủi, song cũng đã gắn bó hai thầy trò với nhau.
Tuy Nam Cung Giao không phải người của Thiền môn, nhưng bản tính chàng phóng dật không cố chấp, lòng chàng trong sáng, còn giữ được chút thiện chân của trẻ thơ, chẳng vương vấn tà niệm hay dục vọng. Tính cách này rất gần với cảnh giới Thiền, khiến Thiền Sơn rất mến.

Ông từng nói rằng :
- Phật tánh trong ngươi rất sáng, dù chẳng thiền định ngày nào mà xem ra còn giác ngộ hơn nhiều cao tăng trong chùa !

Lúc chia tay, ông hiền hòa dặn dò :
- Có, không, sinh, tử, không khác nhau ! Con hãy cố giữ tấm lòng vô dục, vô chấp, tận lực giáng ma vệ đạo nhưng không hiếu sát. Kẻ tạo phúc cho chúng sinh tất sẽ hưởng quả lành !

Nam Cung Giao không hiểu hết ý sư phụ nhưng cũng gật đầu lia lịa.

Thiền Sơn trưởng lão dặn dò thêm :
- Con chỉ mới nắm được vỏ ngoài của chiêu tuyệt kiếm, và chưa đủ công lực nên không được thi triển bừa bãi mà mang hại ! Nếu vào Trịnh Sơn đụng phải Hồ Ly Song Tiên thì nên bỏ chạy !

Nam Cung Giao cười đáp :
- Đồ nhi chỉ mong cứu người, đâu dám nghĩ đến chuyện sinh cường.

 



Trưa mười bốn chàng có mặt ở trấn Vũ Lộ, cách chân núi Trịnh Sơn đến mười mấy dặm để tránh tai mắt của Hồ Bang !

Vũ Lộ là một tiểu trấn nghèo nàn vùng sơn cước, dân cư sống bằng nghề nương rẫy. Cả trấn chỉ có một quán cơm, một nhà trọ.
Chính vì chẳng thu được chút lợi lộc nào ở đây nên Hồ Bang không cử đệ tử đến làm gì !
Chẳng ai buông câu khi biết ao không cá !

Nam Cung Giao vào nhà trọ, tắm gội xong, gọi một mâm cơm rượu mời cả chủ quán nhâm nhi để hỏi chuyện.

May cho chàng, lão già họ Quảng này thường đến trấn An Hội, dưới chân núi Trịnh Sơn, thăm em gái nên rất thông tỏ địa thế Tổng đàn Hồ Bang.

Lão ngà ngà say, đắc ý kể :
- Bẩm công tử ! Núi Trịnh Sơn gồm có hai đỉnh Bắc, Nam, giữa hai đỉnh ấy là một khe lớn. Khe này được dân địa phương gọi là Ngọc Lan Cốc, rộng độ gần trăm mẫu, mọc đầy những cây Bạch Ngọc Lan cao vút và thơm ngát. Trước đây, trong trấn An Hội vẫn thường đến đấy hái hoa Ngọc Lan về chế luyện thành dầu thơm, hoặc tẩm thịt, hồ bột mì, rán lên ăn rất thơm ngon.

Lão dừng lại, uống cạn chung rượu mà Nam Cung Giao mới rót cho, rồi khà khà kể tiếp :
- Đầu năm ngoái, cơ ngơi của Hồ Bang mọc lên, quay về hướng Tây. Từ đó, chẳng người dân nào được vào Ngọc Lan Cốc nữa, vì mặt Đông Sơn Cốc này tận cùng bằng một vùng trũng sâu. Muốn từ thung lũng này trèo lên cốc phải vượt đoạn sườn núi dốc đứng, cao đến mười trượng.

Lão hậm hực chửi bới :
- Mả cha bọn Hồ Bang ! Lúc trước, mỗi lần đến An Hội thăm gia muội, mỗi ngày lão phu đều lên Ngọc Lan Cốc hai lần, buổi sáng thì đứng ở cuối cốc đón bình minh. Còn buổi chiều ngồi ở đầu cốc đón hoàng hôn, ngân nga vài câu thơ cổ, nhâm nhi chén rượu thơm, đưa cay bằng món bánh hoa tẩm mật rắn. Thú vui tao nhã ấy nay còn đâu nữa ?

Nam Cung Giao ngắm gương mặt xương xương có vầng trán cao nhăn nheo, tự nhủ rằng Quảng lão cũng có tướng nhà thơ.

Chàng vui vẻ nói :
- Quảng Đại thúc ! Lần này tiểu điệt đến Trịnh Sơn là để cứu vợ con, song sẽ tiện tay phóng hỏa Tổng đàn Hồ Bang, đuổi họ đi ! Nếu tiểu điệt thành công thì chỉ vài ngày nữa là Đại thúc có thể lên đây mà ngâm thơ, uống rượu !

Quãng lão khoan khoái đáp :
- Nếu được thế thì lão phu đại diện bách tính An Hội cảm tạ thiếu hiệp ! Lão phu đã già, song thiếu hiệp cần sai bảo gì xin cứ nói !

Nam Cung Giao hài lòng, hỏi kỹ địa hình phía Đông của Ngọc Lan Cốc, suy nghĩ một lúc rồi nói :
- Phiền Đại thúc tìm mua giùm tiểu điệt một cỗ xe độc mã, mui kín, mười hai trượng dây chão lớn, một chiếc võng đay thật bền chắc ! Sau đó, Đại thúc bảo lò rèn làm cho tiểu điệt sáu chục cây đinh thép nhọn, thân to độ ngón tay cái và dài chừng hai gang.

Chàng đặt trước mặt lão ba tờ ngân phiếu trăm lượng vàng, nghiêm giọng bảo :
- Sau khi tiểu điệt cứu được ái thê chắc chắn Hồ Bang sẽ mở cuộc điều tra. Số vàng này là để Đại thúc rời bỏ trấn Vũ Lộ này, tìm nơi khác mà làm ăn ! Bằng như, tiểu điệt thất bại, không sống sót trở về, đại thúc tìm đến Tế An đường ở Cảnh Đức Trấn báo tin !

Quảng lão mừng đến tỉnh cả rượu, cảm tạ rối rít và hứa sẽ làm đúng như lời chàng dặn.

Nam Cung Giao mỉm cười :
- Của Thiên trả Địa ! Đại thúc bất tất phải nghĩ ngợi làm gì !

Tuy xuất thân từ nhà cần kiệm, song chàng vẫn ngượng ngùng vì số của cải phi nghĩa, đã cướp được của Quách Thượng Thư và Mạc Tri Phủ, nên phóng tay phân phát cho đỡ áy náy lương tâm !

Xế chiều hôm sau, Nam Cung Giao thắng ngựa vào cỗ xe cũ kỹ mà Quảng lão đã mua giùm.
Sau khi chất vật dụng và hành lý vào thùng xe phủ bạt, chàng cáo từ chủ quán, đi về hướng Bắc.

Khi hoàng hôn buông xuống, Nam Cung Giao còn cách Trấn An Hội hai dặm, và đang ở chân đỉnh Nam của núi Trịnh Sơn.
Chàng rời đường tiểu lộ nối Vũ Lộ với An Hội, rẽ phải đi vào cánh rừng thưa !

Con đường mòn này chỉ dài độ gần dặm là xe không còn đi được nữa.

Nam Cung Giao dừng cương, vỗ về tuấn mã rồi vác dụng cụ đi vòng ra mặt Đường Ngọc Lan Cốc !

Chàng dùng kiếm chặt cành và bụi rậm, mở đường mà đi, vài khắc sau đã đến thung lũng dưới chân sơn cốc.

Bìa rừng ôm lấy mặt sau Sơn Cốc theo hình cánh cung và cách xa độ ba chục trượng. Địa hình thung lũng khá bằng phẳng, chỉ toàn bụi rậm và những cây nhỏ cao độ đầu người.

Nam Cung Giao ngước lên quan sát nhìn thấy một tiểu đình bát giác lợp ngói đỏ, nằm chính giữa khẩu độ bốn chục trượng cửa sau khe núi Ngọc Lan.

Trăng chưa lên, song bốn chiếc đèn lồng phất bằng giấy trắng đã được châm lửa. Chàng nhận ra bóng người lố nhố trong tiểu đình.
Có lẻ bọn này phụ trách việc canh gác, nhân đêm rằm tụ tập lại uống rượu, chờ ngắm trăng.

Không gian nhá nhem, mù mịt sương chiều, song lát nữa cảnh vật thung lũng sẽ hiện lõ dưới ánh trăng rực rỡ. Do vậy, Nam Cung Giao phải tranh thủ lúc này để áp sát chân vách.

Chàng nương theo bụi rậm, tàn cây, luồn lách đến góc bắn của Cốc khẫu.

Trừ phi đối phương nằm dài trên nền Sơn cốc mà nhìn xuống mới thấy được người ở dưới chân vách.

Nam Cung Giao biết thế, nên yên tâm hành động. Võng đay, dây chão sau lưng, còn túi gai dầy đựng bọc cọc sắt nằm trước ngực.
Chàng rút một cây vươn tay cắm vào vách, may mà mũi đầu không phạm đá tảng.

Nam Cung Giao dùng chính lòng bàn tay mình làm búa, vỗ cho đoạn thép nhọn hoắt kia lún sâu hơn gang, đủ sức chịu đựng sức nặng của mình.
Và rồi, chàng đưa tay hữu nắm chặt lấy đoạn cọc thừa mà đu lên. Tay tả lại thò vào túi lấy cộc, vươn dài cắm vào vách, nghĩa là lúc nào cơ thể kháng cũng đong đưa, mũi giầy đặt tạm bợ vào những chỗ lỗi lõm trên vách.

Công việc này vô cùng nguy hiểm và khó khăn, song nhờ công lực thâm hậu, lòng kiên nhẫn và một chút may mắn, Nam Cung Giao đã thành công.

Gọi là may vì vách núi không phải toàn đá tảng, cũng chẳng phải đất mềm xốp, mà là đất đá xen lẫn.
Kết cấu địa chất này đã giữ chặt được những cây đinh thép, và chàng cũng không phải quá tốn sức để cắm chúng!


Nam Cung Giao tay cột chặt một đầu dây chão vào ba cây cọc thép cắm trên nền sơn cốc, rồi giấu cả vào bụi cây. Ánh trăng chẳng thể làm lộ chúng.

Đằng Đông trăng đã mọc, song Nam Cung Giao đã kịp men theo vách cốc luồn sâu vào trong.

Mấy trăm cây Bạch Ngọc Lan cổ thụ đã được giữ lại phần lớn. Hồ Bang chỉ đốn những cây nằm đúng vị trí xây dựng.
Tàn cây rậm rạp đã cản ánh trăng, che chở cho bước chân khách dạ hành.

Nam Cung Giao khoan khoái hít lấy mùi hương thơm thoang thoảng, hăng hái tiến lên.

Tuy loài Bạch Ngọc Lan thường nở rộ khi xuân về, nhưng những tháng còn lại trên cành vẫn lác đác vài bông trắng nuốt chứ không biến mất hẳn.
Do vậy, đã tháng bẩy rồi mà nơi đây vẫn có hương thơm.

Bạch Ngọc Lan là loài thân gỗ lớn, rụng lá. Họ Mộc Lan cao độ hai trượng rưỡi, song trồng lâu năm có cây cao đến sáu bẩy trượng.

Loài cây quí này ra cành thưa thớt mà mập mạp. Mỗi nhành nhỏ mọc một hoa ở đầu mút, giữa Đông ra nụ, xuân về thì nở thành những bông hoa chín cánh trắng trong như ngọc, tựa hàng ngàn ly rượu đặt ở đầu cành, tỏa mùi thơm dìu dịu như hoa lan.

Bạch Ngọc lan nổi danh nhờ cây lớn, hoa nhiều, đứng một mình thì quí phái kiêu sa, trồng thành vườn trông như đảo ngọc.

Bạch Ngọc Lan là sứ giả báo tin xuân, có đặc tính rất kỳ diệu. Vùng nào xuân đến sớm thì hoa nở sớm, lần lượt đón xuân từ cực Nam lên phía Bắc Trung Hoa.
Hiện tượng này xuất phát từ khả năng mẫn cảm với nhiệt độ !
 



Lan man thế là đủ, chúng ta quay lại xem Nam Cung Giao đang làm gì ?

Cơ ngơi chính của Tổng Đàn Hồ Bang là tòa đại sãnh rất lớn, có hình dáng cửa chùa miếu vì các góc ngói cong vút, có hành lang gỗ sơn đỏ, nối những cây cột tròn đen bóng với nhau. Tường chung quanh xây tô cẩn thận, ba bên trổ cửa rất rộng, để khi hội họp, các bang chúng đứng trên mảnh sân lớn bên ngoài vẫn có thể nhìn và nghe thấy lời giáo huấn.

Giờ đây, tòa đại sảnh một tầng đồ sộ kia sáng choang đèn đuốc, người ra vào tấp nập, bưng bê rượu thịt, hoa quả chuẩn bị cúng cô hồn.

Nam Cung Giao đã lăn lê, bò toài lần mò đến được tận đây. Chàng muốn biết chắc khi nào Hồ Bang tập trung cúng kiến mới ra tay.

Suốt một canh giờ qua, chàng đã kiên nhẫn do thám hết các công trình phía sau để tìm Đinh Tử Phượng.
Chàng thầm cảm ơn Trời Phật vì trong cốc không hề có một con cầy nào. Có lẽ vì chó là kẻ thù của chồn cáo nên Hồ Ly Song Tiên không muốn thấy mặt chúng ?

Lực lượng tuần tra khá đông, qua lại nườm nượp, song tinh thần cảnh giác không cao !

Vì sao như vậy ?
Thưa rằng Đinh Tử Phượng bị tống vào ngục vì tội cắm sừng cung chủ là một bí mật mà ngay cả trong Bang cũng ít người được biết. Thế thì người ngoài làm sao biết được ?

Đinh Tử Phượng cũng chẳng có anh chị em hay thân quyến nào khác để cầu cứu.
Tóm lại, khi thư đòi tiền chuộc chưa gởi Nam Cung Giao thì chắc chẳng có ma nào dại gì mò vào chốn long đàm hổ huyệt này !

Song trời cao có mắt, đã run rủi cho Nam Cung Giao ngồi gần gã Đường chủ lắm mồm họ Tô, nên chàng sớm có mặt ở đây !

Bang hội nào cũng có nhà tù, trước là để giam giữ tù binh, sau là trừng phạt những đệ tử vi phạm kỷ cương, luật lệ. Các nhà lao đều có điểm giống nhau ở chỗ là rất kiên cố, tối tăm, ẩm thấp, dơ dáy.

Nam Cung Giao đã tìm ra ngụcthất khá dễ dàng.

Hồ Bang đã vui vẻ chỉ dẫn cho chàng bằng tấm bảng gỗ sơn trắng toát, viết bốn chữ Trừng Giới thạch lao, trên bên trên một cánh cửa gỗ dầy, nằm ở chân vách núi phía Nam.

Như vậy, nhà lao được trổ sâu vào vách núi, vừa chắc chắn, vừa đỡ mất thẩm mỹ cảnh quan chung !

Trên đường xâm nhập, Nam Cung Giao đã nhìn thấy rất nhiều những tấm bảng gỗ nằm rải rác trên các cỗng thành kiến trúc, giới thiệu rõ chức năng của từng nơi, kể cả nhà tắm và hố.
Tất cả những tấm bảng, những mảnh giấy ấy đều mang nét chữ giống nhau, viết theo lối khải thư rất đẹp.

Nam Cung Giao cười thầm :
- Chắc là trong Hồ Bang có một cao thủ về thư pháp ! Lão này sợ không ai biết mình có tài nên đã viết loạn xạ, đem chưng khắp cốc, kể cả những nơi hôi thối ! Song cũng nhờ lão mà ta đỡ mệt xác !

Song chàng chưa thể xông vào giải cứu tình nương vì trước cửa lao có đến bốn gã áo trắng mang đao đứng tán gẫu.

Qua lời đối thoại, chàng biết rằng lát nữa đây Hồ Ly Song Tiên sẽ đích thân chủ tế lễ cúng vong. Không phải chỉ cúng cô hồn người mà là cả vong linh của loài chồn cáo !

Toàn bang sẽ tập trung quanh đại sảnh để tưởng niệm, rồi nghe bài thuyết giáo của Thái Thượng Bang Chủ Hồ Tiên Cổ Huyền Minh ! Sau đó, bang chúng sẽ được một bữa nhậu ra trò.

Nam Cung Giao yên chí, ra phía trước xem xét thử. Toàn thân chàng được phủ kín một mầu đen, rất khó bị phát hiện khi ẩn trên tàn cây Bạch Ngọc Lan um tùm !

Giữa canh hai, những nhân vật chủ chốt của Hồ Bang xuất hiện. Hai lão nhân mặc đạo bào xanh, tóc bạc trắng kia chắc là Hồ Tiên Cổ Huyền Minh và Ly Tiên Bàng Thu Liên. Tuổi họ đã gần tám mươi, song da dẻ vẫn hồng hào và có rất ít nếp nhăn.

Thiền Sơn trưởng lão đã từng nhận xét : Hồ Ly Song Tiên xảo trá, thâm độc còn hơn cả Long Giác Thần Quân, bản lãnh cũng không kém. Do họ nuôi ảo mộng thành tiên, chuyên tâm luyện đan nên giang hồ thời bình được mấy chục năm. Nay Song Tiên đã đầu Hồ Bang là có ý xưng hùng, khiến lão nạp lo cho chính khí võ lâm !

Người đi sau Song Tiên là một hán tứ tuổi độ ba mươi mốt ba mươi hai, khá anh tuấn với hàng râu mép tỉa gọn, song thần thái gã cao ngạo và lạnh lẻo, nhìn bộ trường bào đỏ có đai lưng đính bảo ngọc lấp lánh, Nam Cung Giao đoán gã là Sài Tuấn..

Kế đến là anh em Hàn Đan Song Kiếm và bốn lão già lạ mặt nữa.

Cả sáu người đều mặc áo choàng, biểu hiện vai vế Hộ Pháp ! Như vậy là còn thiếu Quỉ Côn Đường Cổ Ngư, phó Bang Chủ Hồ Bang.

Bọn bang chúng lũ lượt kéo đến, đứng chật cả mãnh sân gạch rộng bao quanh đại sãnh.

Khi tiếng chuông mõ, tiếng tụng niệm ê a của Song Tiên vang lên, Nam Cung Giao len lén quay lại chỗ Thạch lao.
Chàng mừng rỡ nhận ra chẳng còn ai canh gác, và cũng không có đèn đóm gì cả !

Sau khi cẩn thận liếc quanh, chàng lao về phía cửa ngục, rút cây cọc sắt dài hơn hai gang, xỏ vào ống khóa bẩy mạnh, lực đạo của cánh tay có thể nâng được ba trăm cân nên khóa sắt bị nhổ rời khỏi lớp gỗ dầy.

Nam Cung Giao nhanh nhẹn lách vào, bật hỏa tập soi đường, tay phải thủ sẵn trường kiếm.

Mùi hôi hám trong hang xộc vào mũi khiến chàng càng thương xót cho Tử Phượng. Liệu một nữ nhân bụng mang dạ chửa sẽ chịu đựng được bao lâu trong chốn địa ngục này ?

Bề ngang thạch động rộng độ ba mươi trượng, trần cao hơn trượng, dọc hai vách là hàng loạt cửa phòng giam ngầm, đục sâu vào lòng núi. Tất cả đều mở toang hoác vì không có tù nhân.

Nam Cung Giao soi rọi tất cả những phòng ấy, không dám bỏ qua, song chỉ hoài công.

Lúc gần đến cuối hang chàng phát hiện một chiếc lồng lớn, gồm toàn thanh sắt tròn.

Nam Cung Giao hồi hộp lướt đến, và ánh sáng hiu hắt của hỏa tập đã giúp chàng trông thấy một thân hình treo lủng lẳng. Mặt nữ nhân áo đen này bị tóc xõa xuống che phủ nên rất khó xác định lai lịch, song cái bụng nhô cao kiađã tố cáo nàng là Đinh Tử Phượng.

Nàng đã treo cổ tự sát đúng lúc có người đến cứu !

Nam Cung Giao rụng rời, buông rơi hỏa tập xuống nền hang, may mà nó không tắt. Chàng chẳng còn tâm trí đâu mà tìm kiếm ổ khoá, xuống tấn chụp lấy hai song sắt, nghiến răng kéo chúng banh rộng ra.

Chàng lách ngay vào, tay tả khiêng xác Tử Phượng, tay hữu vung kiếm cắt giải thắt lưng oan nghiệt đang nối cổ nàng với song của trần lồng !

Nam Cung Giao nghẹn ngào đặt Tử Phượng nằm xuống sàn, thăm mạch cổ và áp sát tay nghe nhịp tim. Tuy da thịt còn ấm nhưng mạch đã tắt, hơi thở đã tuyệt !

Nam Cung Giao bật khóc nức nở, chẳng cần biết tiếng khóc bi thương của chàng có lọt ra ngoài hay không !

- Phượng muội ! Nàng đã báo mộng bảo ta chờ đúng đêm rằm hãy đến sao lại lỡ bỏ đi trước thế này ?

Chàng lột phăng bao vải trên đầu điên cuồng thổi những luồng dưỡng khí vào chiếc miệng có đôi môi lạnh giá và nhợt nhạt.

Chàng còn luồn tay hữu xuống dưới lưng, áp vào huyệt mệnh môn, cố dồn chân khí vào kinh mạch của người yêu !

Hỡi ôi ! Mọi nỗ lực của chàng chỉ là công cốc, cơ thể Tử Phượng vẫn không một dấu hiệu hồi sinh !

Nam Cung Giao ôm xác nàng mà than khóc. Lát sau, chàng chợt nhớ đến đứa con năm tháng tuổi trong bụng Tử Phượng, đau đớn vuốt ve, rồi úp mặtvào đấy.

Chàng chợt nghe như có tiếng nước sôi ùng ục, ngỡ ngàng tự hỏi :
- Lạ thực ! Chẳng lẽ sau khi chết rồi thì bộ máy tiêu hóa vẫn còn hoạt động ? Hay là hiện tượng này do đứa bé trong bụng tạo ra !



Chàng chẳng hề có chút kinh nghiệm nào về việc chết chóc và thai nghén nên nghi hoặc mãi !

Nhưng việc cần là trước mắt là phải đưa xác vợ con ra khỏi chốn này !

Chàng liền bồng Tử Phượng thoát ra. Khi đã đến chỗ giấu dây chão và võng đan, chàng đặt thi thể Tử Phượng vào võng, cột dây thả xuống.

Trong tòa tiểu đình bát giác kia vẫn có ba gã đang canh gác, song chúng đang nóng lòng chờ đợi đồng bọn mang rượu thịt về nên chẳng thèm đi tuần như quy định.

Nam Cung Giao thả võng đan chạm đất rồi bám lấy dây chão tuột xuống. Chàng bồng Tử Phượng chạy về phía cánh rừng, đến được chỗ để xe ngựa !

Sau khi đặt thi thể Tử Phượng gọn gàng trong thùng xe, Nam Cung Giao nghiến răng khấn vái :
- Phượng muội ! Ngày ấy ta đã khẩn cầu nàng ly khai Hồ Bang để cùng nhau chung sống. Nàng không nghe ta nên mới có cảnh tử biệt này !

Chàng đau lòng đến nỗi không nói được nữa ! Và chợt nghe cơn giận nổi bùng ! Cái chết thảm khốc của Tử Phượng đã khiến chàng không còn suy nghĩ thiệt hơn, chỉ nghĩ đến chuyện báo thù !

Nam Cung Giao lẩm bẩm :
- Mẹ kiếp. Dù không đánh lại thầy trò bọn ngươi, song ta cũng quyết gỡ gạc chút đỉnh !

Chàng lập tức quay lại chân vách, bám dây chão trèo lên.

Có lẽ vì quá chú tâm đến yến tiệc nên đến giờ này mà bọn canh gác thạch lao chưa phát hiện ra việc khóa ngục bị bẻ. Cho nên, Ngọc Lan Cốc vẫn vang vangtiếng xai quyền hành lệnh của đám bang chúng !

Nam Cung Giao còn phải đưa thi thể Tử Phượng thoát đi an toàn nên chẳng dại gì đánh động đối phương.
Chàng quay lại đây cũng là rất mạo hiểm !
Chàng tìm đến hai tòa tiểu viện xinh đẹp ở giữa vườn hoa, cái treo bảng Thái Thượng Ngọc Xá, cái kia là Bang Chủ Kim Xá !

Đây chính thị nơi cư trú của Hồ Ly Song Tiên và Sài Tuấn.
Biết chắc chủ nhà đang ăn uống ngoài đại sảnh, Nam Cung Giao ung dung thọc kiếm cắt then cửa sổ sau Thái Thượng Ngọc Xá !

Gần mực thì đen, chàng có nhiều ngày đồng hành với Mộc Kính Thanh và anh em họ Trịnh nên học được nhiều thủ đoạn của giới đạo chích, mau chóng khám phá ra những chỗ giấu bảo vật.
Sau khi lục soát phòng ngủ mà không thấy gì, Nam Cung Giao đi sang phòng bên cạnh, nơi tụng niệm của Hồ Ly Song Tiên !

Trên bàn thờ kia không hề có tượng Phật hay tượng Tam Thanh, mà là hai con thú nhồi bông, một chồn, một cáo. Chúng đứng đấy, dương mắt nhìn Nam Cung Giao với vẻ tò mò !

Trong tủ ngầm của bệ thờ, Nam Cung Giao tìm thấy lọ sành đựng thuốc và túi châu báu. Chàng cắt một mảnh rèm làm bàn thờ màu đỏ, gom chiến lợi phẩm lại.

Song chưa hả giận,Nam Cung Giao lôi cổ hai thần tượngcủa Song Tiên xuống mà hành hạ để chọc tức họ !

Song, khi mổ bụng hai con thú nhồi bông, chàng lại thu được hai ống đồng dài độ gang tay, thân lớn cỡ quảchanh. Chẳng cần biết trong chứa gì,chàng bỏ cả vào vuông vải, rồi đi sang Bang Chủ Kim Xá ngay cạnh đấy,

Ở đây, chàng tìm ra hốc giấu của phía sau một bức tranh lớn, trong chứa châu báu và ngân phiếu !

Nam Cung Giao hài lòng vì đã vét gần sạch tài sản Hồ Bang, mỉm cười lẩm bẩm :
- Đồng tiền liền với ruột. Song Tiên và Sài Tuấn sẽ phải điên lên vì tiếc của !

Nam Cung Giao thoát ra hậu cốc dễ dàng bởi phần lớn bọn bang chúng đã mờ mắt vì say rượu !

Chàng tháo dây, xuống bằng những cọc sắt, lần lượt nhổ sạch để phi tang, hi vọng đối phương không biết mình đi hướng nào !

 

Hết Hồi 9  - Tiếu Ngạo Trung Hoa   -  Ưu Đàm Hoa
Xem Tiếp Hồi 10