Hồi 39 - Ðông Châu Liệt Quốc
Triển-Hỉ vấn kế cùng Liễu Hạ-Huệ
Ngụy-Thù phóng hỏa nhà Hi Phụ-Cơ
Trong lúc nầy Tề Hiến-Công vẫn có ý nối chí cha, nuôi mộng bá chủ chư hầu.
Một hôm hỏi các quan Ðại-phu :
- Tiên quân ta là Tề Hoàn-Công lúc nào cũng lo đánh Đông dẹp Bắc, gây thế lực
cho mình, chư-hầu kính nễ. Nay đến đời ta, chàng lẽ cứ nằm im, trong lúc các
chư-hầu mỗi ngày một mạnh. Ta còn nhớ năm trước vua Lỗ định giúp Vô-Khuyết
chống cự với ta, hận ấy chưa trả. Nay Lỗ lại liên-kết với Vệ và Sở, thế rất
mạnh. Nếu
không trừ trước ắt sanh hậu họa. Vừa rồi, ta có nghe nước Lỗ mất mùa, ta muốn
thừa cơ đánh Lỗ, ý các ngươi thế nào ?
Quan Thượng-khanh Cao-Hồ nói :
- Nước Lỗ được nhiều nước giúp, ta đánh khó thắng nỗi.
Tề Hiến Công nói :
- Nếu ngồi nhà mà luận, chưa chắc đã đúng. Cứ đem quân đến đánh thử một trận
xem các nước chư hầu có ai giúp Lỗ chăng ?
Nói xong, cử binh kéo sang miền Bắc nước Lỗ.
Quân thám thính về báo.
Lỗ Hi-Công nói :
- Nước ta đang lúc mất mùa, quân Tề lại kéo sang, vậy thì nên đánh hay hòa ?
Quan Ðại-phu Tang Tôn-Thần, nói :
- Xin Chúa-công nhẫn nhục cho người đến giảng hòa với Tề. Nếu không xong sẽ
tính .
Lỗ Hi-Công hỏi :
- Hiện nay ai có thể lãnh trọng-trách đó ?
Tang Tôn-Thần nói :
- Tôi xin tiến cử Triển-Hoạch con quan Tư-không, đời trước làm quan Sĩ-cư,
được phong ở đất Liễu-Hạ. Người ấy nho-nhã thông-minh lắm, chỉ vì chán ghét
thói đời nên từ quan về sống cảnh an cư. Nay được người ấy đi, ắt vua Tề phải
kính trọng.
Lỗ Hi-Công nói :
- Ta vẫn có nghe tiếng người ấy, song hiện nay người ấy ở nơi đâu ?
Tang Tôn-Thần nói :
- Hiện ở nơi Liễu-Hạ.
Lỗ Hi-Công liền cho người đến triệu Triển-Hoạch.
Triển-Hoạch cáo bịnh không đến.
Lỗ Hi-Công hỏi :
- Triển-Hoạch cáo bịnh, bây giờ phải làm sao ?
Tang Tôn-Thần nói :
- Triển-Hoạch còn có người em là Triển-Hi, dầu quan chức nhỏ, nhưng có tài ứng
đối rất hay. Nay sai Triển-Hi đến nhà Triển-Hoạch hỏi xem nên dùng cách gì để
ứng đối với vua Tề ?
Lỗ Hi-Công theo lời, sai Triển-Hi đến Liễu-Hạ.
Triển-Hi tuân lệnh, đến nơi vào yết kiến Triển-Hoạch thuật lại ý muốn của Lỗ
Hi-Công và sứ mệnh của mình.
Triển-Hoạch nói :
- Vua Tề sang đánh ta là có ý muốn nối công-nghiệp của Tề Hoàn-Công ngày
trước, nhưng không biết rằng muốn làm bá chủ phải tôn phò Thiên-tử nhà Châu.
Nay ta đem di-mệnh của Tiên-vương ngày xưa mà trách vua Tề thì thiếu gì cách
nói.
Triện-Hỉ trở về nói với Lỗ Hi-Công :
- Tôi đã hỏi được cách ứng đối với vua Tề rồi.
Lỗ Hi-Công liền phát lễ-vật sai Triện-Hỉ đến thương thuyết với vua Tề.
Triển-Hỉ vâng lệnh, đi đến phía Nam sông Vân, gặp đội tiền đạo của quân Tề,
tướng tiên phuông là Thôi-Yến.
Triển-Hỉ liền đến dâng lễ vật và xin yết kiến Tề-chúa.
Thôi-Yến dẫn Triển-Hỉ vào.
Triển-Hỉ nói với vua Tề :
- Chúa-Công tôi nghe tin xe giá nhà vua sang địa giới nước tôi, liền sai tôi
đến đây để tiến dâng lễ vật.
Tề Hiến-Công hỏi :
- Người Lỗ nghe ta đem quân sang đánh có sợ chăng ?
Triển-Hỉ đáp :
- Có những bọn tiểu nhân thì sợ thật nhưng những người quân-tử thì không chút
gì sợ hãi.
Tề Hiến-Công nói :
- Hiện nay nước ngươi không có ai mưu trí như Thi-Bá, cũng không có ai vũ-dõng
bằng Tào-Uế, ngoài đồng lại bị mất mùa, cỏ cây vàng úa. Thế thì cậy vào đâu mà
không sợ hãi ?
Triển-Hỉ nói :
- Nước tôi không cậy tài, cũng không cậy của. Chỉ cậy có một điều là di-mệnh
của Tiên-vương mà thôi. Tiên-Vương nhà Châu ngày xưa phong Thái-Công nơi nước
Tề, phong Bá-Cẩm nơi nước Lỗ khiến hai nước uống huyết ăn thề : "Con cháu sau
nầy đời đời cùng giúp nhà Châu, không làm hại lẫn nhau ".
Lời thề ấy còn chép trong sách sử hai nước. Trước kia Tề Hoàn-Công lên làm
bá-chủ, cũng hội chư hầu đất Kha để giúp Thiên-tử, nay hiền-hầu bõ đường lối
ấy mà dùng vũ-lực uy-hiếp các chư hầu, trái với lời thề của Tiên-quân xưa. Làm
sao nên được. Tôi dám chắc hiền-hầu không bao giờ làm trái đạo. Bởi vậy nước
tôi không sợ hãi.
Tề Hiến-Công nghe nói nghĩ thầm, rồi bảo Triển-Hỉ :
- Ngươi về nói lại với Lỗ-hầu, ta xin cùng nước Lỗ giảng hòa .
Nói xong truyền lui binh về nước .
Triển-Hỉ về thuật lại với Lỗ Hi-Công.
Lỗ Hi-Công nói :
- Việc binh như thế là tạm yên, các ngươi còn có ý gì nữa chăng ?
Tang Tôn-Thần nói :
- Tề tuy rút quân, nhưng không khỏi khinh ta. Ta đã dùng lời nói làm kế hoãn
binh, bây giờ xin Chúa-công cho tôi và Trọng-Toại mượn quân nước Sở để đánh
Tề.
Lỗ Hi-Công nhậm lời, sai Trọng-Toại hiệp với Tang Tôn-Thần sang Sở.
Tang Tôn-Thần có quen với tướng Sở là Thành Đắc-Thần, nên nhờ Thành Đắc-Thần
tiến dẫn.
Thành Đắc-Thần vào tâu với Sở Thành-Vương xin cử binh đánh Tề.
Sở Thành-Vương nhậm lời, khiến Thành Đắc-Thần làm chánh-tướng, Thúc-Hầu làm
phó tướng hiệp binh với hai tướng Lỗ làm tiên phuông kéo đến nước Tề chiếm lấy
đất Dương-Cốc, phong cho con Tề Hoàn-Công là Công-tử Ung coi giữ.
Sau khi thắng trận, Thành Đắc-Thần kéo binh về, để Thúc-Hầu ở lại với một đạo
quân nhỏ, dùng làm ngoại viện cho nước Lỗ .
Sở Thành-Vương rất đẹp lòng, nói với quan Tể-Tướng Tư-Văn :
- Ta giận nước Tống hơn là nước Tề. Thành Đắc-Thần đã vì ta mà đánh nước Tề
rồi, vậy nhà ngươi cũng nên vì ta mà đánh Tống .
Lúc bấy giờ Tư-Văn đã già, lại thấy Thành Đắc-Thần tự chuyên nên có ý không
bằng lòng, nói :
- Tài trí tôi kém Thành Đắc-Thần, xin Ðại-Vương cho Thành Đắc-Thần thay tôi,
tất có thể giúp Ðại-vương đánh Tống được.
Sở Thành-Vương nói :
- Nước Tống đang thần phục nước Tấn, nay ta đánh Tống thì Tấn phải cứu, nếu
nhà ngươi từ chối thì không ai đảm đương được việc nầy.
Nói xong, quyết-định sai Tư-Văn ra duyệt binh để thị oai.
Tư-Văn chỉ làm qua loa.
Sở Thành-Vương hỏi :
- Nhà ngươi duyệt binh mà không giết một kẻ nào để trừng phạt thì làm sao có
uy được.
Tư-Văn nói :
- Tôi già yếu, nếu muốn dùng uy thì phải dùng Thành Đắc-Thần mới được.
Sở Thành-Vương liền sai Thành Đắc-Thần ra duyệt binh.
Thành Đắc-Thần ra hiệu-lệnh rất oai-nghiêm, kẻ nào trái phép đều bị giết cả .
Sở Thành-Vương mừng lắm, nói với Thành Đắc-Thần :
- Nhà ngươi thật quá có tài làm tướng.
Tư-Văn lại xin nhường chức mình cho Thành Đắc-Thần.
Sở Thành-Vương chấp thuận, phong cho Thành Đắc-Thần chức Tể-tướng .
Từ chức xong, Tư-Văn mở tiệc đãi-đằng, mừng Thành Đắc-Thần nhậm chức mới.
Các quan đến chúc tụng rất đông, chỉ có quan lại phu Vĩ Lã-Thần vì bị bệnh
không đến.
Tiệc nữa chừng, xảy có quân vào báo với Tư-Văn :
- Ngoài cửa có một cậu bé xin vào yết-kiến.
Tư-Văn cho vào.
Mọi người xem thấy đó là Vĩ-Giả con trai của Vĩ Lã-Thần, mới lên mười ba tuổi.
Vĩ-Giả ngồi vào bàn tiệc, ăn uống rất ung-dung, không tỏ một lời nào cả.
Tư-Văn lấy làm lạ hỏi :
- Ta tiến-cử cho nước được một vị Tể-tướng đủ tài đức, các quan đều chức mừng,
sao ngươi lại không có lời nào cả ?
Vĩ-Giả nói :
- Các ngài cho là việc mừng, song tôi cho là một việc đáng lo.
Tử-Văn hỏi :
- Tại sao ngươi lại bảo là việc đáng lo ?
Vĩ-Giả nói :
- Thành Đắc-Thần là một người vũ dũng, chứ không có mưu lược . Vì vậy dùng để
gây chiến thì tốt, bằng dùng để trị nước thì không xong. Nếu không có tài trị
nước mà chỉ có tài gây chiến thì nước sẽ mất, còn mừng làm sao !
Các quan đều nói :
- Con nít nói càn. Chúng ta không nên chấp cứ.
Vĩ-Giả cười lớn, rồi cứ ăn uống như thường.
Mãn tiệc, các quan lần lượt ra về cả.
Ngày hôm sau, Sở Thành-Vương cho Thành Đắc-Thần làm Thống-tướng cử đại-binh
hiệp với các nước Trần, Soái, Trịnh và Hứa, kéo sang đánh Tống, vây chặt nơi
đất Mân.
Tống Thành-Công vội-vã cho sứ sang nước Tấn cáo cấp.
Tấn Văn-Công họp các quan triều-thần thương-nghị.
Tiên-Trẩn nói :
- Nước Sở là nước có ơn riêng của Chúa-công, nay cậy sức mạnh sang đánh Tề và
Tống, đó là cơ hội để Chúa-công gác bõ tiếng ơn , đứng trên danh-nghĩa cứu lấy
kẻ yếu, củng-cố địa-vị bá-chủ của Chúa-công đó.
Tấn Văn-Công nói :
- Nếu muốn cứu Tề và Tống phải làm thế nào ?
Hồ-Yến thưa :
- Tào và Vệ thân với Sở, nhưng lại là hai nước thù của ta . Nay Chúa-công cử
binh sang đánh hai nước ấy, Sở ắt rút binh về cứu viện, thế là Tề và Tống thoát
nạn.
Tấn Văn-Công khen phải bảo sứ nước Tống là Công Tôn-Cố trở về nói với Tống
Thành-Công cứ vững lòng chống giữ quân Sở.
Công Tôn-Cố vâng mệnh trở về.
Tấn Văn-Công hỏi các quan :
- Nay muốn đánh Tào và Vệ phải dùng ai làm tướng ?
Triệu-Thôi nói :
- Người làm tướng có vũ-dũng không bằng có mưu-trí. Mà người có mưu-trí cũng
không bằng kẻ có học-thức. Nếu Chúa-công muốn dùng người học thức tôi xin
giới-thiệu Khước-Cốc.
Khước-Cốc năm nay đã năm mươi tuổi mà vẫn còn chăm học lắm.
Tấn Văn-Công hỏi :
- Làm tướng là phải đồ binh lập trận cớ sao ngươi lại giới-thiệu kẻ ham học ?
Triệu-Thôi nói :
- Người ham học tất chuộng nghĩa, mà đã chuộng nghĩa tất thương dân. Không gì
thắng giặc dễ dàng hơn khi được dân mến chuộng.
Tấn Văn-Công khen phải, liền sai người triệu Khước-Cốc đến, phong cho
Khước-Cốc làm Nguyên-soái.
Khước-Cốc từ chối không nhận.
Tấn Văn-Công nói :
- Ta đã biết tài của ngươi, sao ngươi lại từ chối ?
Tấn Văn-Công cứ ép mãi , Khước-Cốc mới nhận.
Tấn Văn-Công chọn ngày duyệt binh ở đất Bi-Lư, chia quân làm ba đạo.
Ðạo trung-quân, Khước-Cốc làm chánh tướng, Khước-Tần làm Phó tướng.
Ðạo thượng quân, Hồ-Mao làm Chánh-tướng, Hồ-Yến làm Phó-tướng.
Ðạo hạ-quân, Loan-Chi làm Chánh tướng, Tiên-Trẩn làm Phó-tướng.
Khước-Cốc lên trướng đài truyền mệnh lệnh, quân-sĩ ai nấy đều phục tùng.
Bỗng có một trận gió to thổi đến làm gẩy cây đại kỳ, ai nấy đều giật mình kinh
sợ.
Khước-Cốc bảo các tướng
- Gẩy lá cờ đại-tướng là điềm xấu của ta, nhưng lại là điềm tốt của Chúa-công
có thể dựng được nghiệp bá đó.
Các tướng không hiểu ngơ ngác hỏi.
Khước-Cốc chỉ cười không đáp.
Kế đó, Tấn Văn-Công bàn mưu đánh Tào và Vệ.
Khước-Cốc nói :
- Tôi đã bàn định với Tiên-Trẩn rồi, nếu quân ta chia ra để đánh Tào và Vệ một
lúc, khó thắng được . Bây giờ nếu mượn đường nước Vệ đánh Tào. Nước Vệ đang
giao-hảo với Tào tất nhiên không cho mượn đường.
Lúc đó ta đem quân qua sông Hoàng-Hà, lẻn sang đánh nước Vệ. Hễ thắng Vệ thì
Tào ắt phải hàng, bởi vì vua Tào , hiện nay dân trong nước không phục, không
đủ sức chống giữ.
Tấn Văn-Công nói :
- Nhà ngươi quả là một kẻ cao kiến.
Liền sai sứ sang mượn đường nước Vệ để đánh Tào.
Quan Ðại-phu nước Vệ là Nguyên-Huyến nói với Vệ Thành-Công :
- Trước vua Tấn lưu vong sang nước ta, Tiên-quân ta không tiếp rước, thù ấy
chắc vua Tấn chưa quên. Nay mượn đường đánh Tào, nếu nước ta không chấp-nhận
thì Tấn ắt đánh Vệ.
Vệ Thành-Công nói :
- Vệ và Tào cùng thần phục Sở, nếu ta cho Tấn mượn đường đánh Tào thì chưa
chắc đã được lòng Tấn, mà lại gây oán với Sở . Thà nước Tấn giận ta còn hơn là
để nước Sở oán trách.
Nói xong, đuổi sứ Tấn trở về.
Tấn Văn-Công nói :
- Khước-Cốc dự đoán quả không sai.
Nói xong ra lịnh kéo quân qua sông Hoàng-Hà, thẳng đến đất Ngũ-Lộc (thuộc Vệ).
Ngũ-Lộc là chỗ Giới Tử-Thôi đã cắt thịt nấu cháo cho Tấn Văn-Công ăn thuở
trước, vì vậy khi đến nơi, Tấn Văn-Công nhìn thấy cảnh vật, chạnh nhớ đến
chuyện xưa động lòng sa nước mắt.
Ngụy-Thù nói :
- Chúng ta đánh phá, đoạt thành rửa cái nhục trước kia chớ sao lại khóc ?
Tiên-Trẩn nói với Tấn Văn-Công :
- Ngụy-Thù nói rất phải. Xin Chúa-công cho tôi đem quân phá thành Ngũ-Lộc.
Tấn Văn-Công nhậm lời.
Ngụy-Thù nói với Tiên-Trẩn rằng :
- Tôi xin theo giúp sức với tướng quân.
Hai người cùng đem quân ra đi.
Tiên-Trẩn truyền quân sĩ dùng cờ đỏ cắm ở các chỗ cao.
Ngụy-Thù thấy thế hỏi :
- Việc quân cẩn phải kín đáo . Sao tướng-quân lại làm thế ? Phỏng như quân
giặc biết trước đề phòng thì lấy thành sao được ?
Tiên-Trẩn nói :
- Có lúc cần bí mật song có lúc cũng phải thị-uy. Nước Vệ vốn tùng phục nước
Tề, nay đổi lòng đầu Sở, dân trong nước không thuận. Ta lấy uy dễ chẳng hơn.
Thực vậy, dân trong thành Ngũ-Lộc trông thấy cờ nước Tấn cắm khắp nơi, ngỡ là
quân Tấn đông lắm, hoảng sợ bỏ trốn rất nhiều.
Quan trấn thủ không cản nỗi cũng phải bỏ trốn theo.
Tiên-Trẩn kéo quân vào thành không tốn một tên quân, liền sai người báo với
Tấn Văn-Công hay.
Tấn Văn-Công nói với Hồ-Yến :
- Khi trước bọn nông-phu cho ta viên đất, ngươi bảo là điềm được đất, ngày nay
mới thấy linh nghiệm.
Nói xong liền khiến lão tướng Khước Bộ-Dương đến trấn thủ thành Ngũ-Lộc, còn
đại binh kéo thẳng đến Vu-Địa (đất Vệ).
Vừa đến nơi, Nguyên-soái Khước-Cốc nhuốm bệnh.
Tấn Văn-Công hãy tin vội vã đến thăm.
Khước-Cốc nói :
- Tôi cảm ơn tri ngộ của Chúa-công, cũng muốn đem thân báo đáp, song trời đã
ứng cái điềm gãy cờ ngày trước, ắt tôi không còn phò Chúa-công được nữa.
Tấn Văn-Công hỏi :
- Nhà ngươi có câu nào ký thác với ta chăng ?
Khước-Cốc nói :
- Nay Chúa-Công đánh Tào và Vệ, chẳng qua cũng chỉ để kềm chế nước Sở . Muốn
kềm chế nước Sở không gì hơn là liên kết với Tề và Tần. Tề vốn đã sẳn ghét Sở
dễ thu phục hơn. Hễ thu phục được Tề thì Tào và Vệ phải sợ, bỏ Sở đầu Tấn. Còn
nước Tần, phải tùy cơ hội mua chuộc mới được.
Tấn Văn-Công khen phải. Sai sứ sang giao-hiếu với Tề, hứa hẹn hai nước kết
liên với nhau để chống Sở.
Lúc bấy giờ Tề Hiến-Công đã chết. Người trong nước tôn Công-tử Phát (em Tề
Hiến-Công) lên nối ngôi xưng hiệu là Tề Chiêu-Công.
Tề Chiêu-Công bị nước Sở chiếm đất Cốc lấy làm tức giận, nay sẵn dịp nước Tấn
đến giao hảo, nên thuận tình ngay, mới thân hành sang Vu-Địa hội với Tấn
Văn-Công.
Còn Vệ Thành-Công khi thấy quân nước Tấn đánh chiếm đất Ngũ-Lộc, vội vã sai
Ninh-Du (con Ninh-Tốc) đến yết kiến Tấn Văn-Công xin giảng hòa.
Tấn Văn-Công nói :
- Nước Vệ đã không cho ta mượn đường, nay giảng hòa là có ý dối gạt . Ta phải
đem quân đến Sở-Khâu phá tan Kinh-đô nước Vệ mới nghe.
Ninh-Du về tâu lại với Vệ Thành-Công.
Lúc bây giờ tại Kinh đô nước Vệ ai lấy đều lo sợ, dân chúng ngủ không yên, đêm
ngày nơm-nớp sợ quân Tấn kéo đến.
Ninh-Du thấy tình trạng ấy, tâu với Vệ Thành-Công :
- Nước Tấn đang giận Chúa-công, dân chúng trong kinh thành lại quá sợ hãi. Nay
Chúa-công ra lệnh đi nơi khác để nước Tấn khỏi kéo quân đến Kinh-thành, rồi ta
sẽ tìm cách giảng hòa với Tấn.
Vệ Thành-Công thở dài than :
- Xưa vua Tấn bị lưu vong, tiên-quân ta vô lễ, không tiếp đón, đến nay ta lại
bất minh, vụng tính, không cho Tấn mượn đường để đến nỗi dân trong nước phái
phập phồng lo sợ, ta còn mặt mũi nào ở đây nữa.
Than rồi liền sai quan Ðại-phu Nguyên-Huyến cùng với em là Thúc-Vũ giữ lấy
quyền chính, còn mình tránh ra nơi đất Tương-Ngưu.
Một mặt sai quan Ðại-phu Tôn-Viên sang Sở cầu cứu .
Tin ấy đến tai Tấn Văn-Công. Nhưng lúc đó Tấn Văn-Công bận lo việc tống táng
Khước-Cốc vì Khước-Cốc lâm bệnh chẳng bao lâu tạ thế.
Khước-Cốc chết, Tấn Văn-Công phong Tiên-Trẩn lên thế chức Nguyên-soái, vì đã
có công lấy được thành Ngũ-Lộc. Lại cho Tư-Thần thay Tiên-Trẩn làm phó tướng
đạo hạ-quân.
Chĩnh đốn binh ngũ xong, Tấn Văn-Công bàn mưu diệt nước Vệ.
Tiên-Trẩn can :
- Tề và Tống đang bị Sở áp chế, nghĩa vụ ta là phải cứu Tề và Tống. Nay Tề và
Tống chưa cứu được, lại diệt Vệ thì đâu phải là nghĩa bá chủ. Xin Chúa-công
đem quân sang đánh Tào.
Tấn Văn-Công theo lời, kéo quân sang nước Tào.
Tào Cung-Công hay tin họp các quan triều-thần thương-nghị .
Quan Ðại-phu là Hi Phụ-Cơ nói :
- Vua Tấn sang đánh nước ta là để trả thù việc Chúa-công xem xương sườn thuở
xưa. Nếu lấy binh-lực e không cự lại. Dám xin Chúa-công cho tôi sang làm sứ
giảng-hòa với Tấn thì hay hơn.
Quan Ðại-phu là Vu-Lang nói với Tào Cung-Công :
- Tôi nghe lúc trước vua Tấn qua nước ta, Hi Phụ-Cơ có đem vật thực thết đãi,
nay lại xin đi sứ để giảng hòa, tất có ý muốn bán nước. Xin Chúa công chém Hi
Phụ-Cơ trước, tôi sẽ có kế làm lui được quân Tấn .
Tào Cung-Công nói :
- Hi Phụ-Cơ bất trung đáng lẽ phải giết, nhưng ta nghĩ tình dung thứ. Và cách
chức đuổi về.
Hi Phụ-Cơ khỏi chết, lạy tạ trở về. Từ đấy đóng cửa nằm nhà không bước đi đâu
một bước.
Tào Cung-Công hỏi Vu-Lang :
- Bây giờ nhà ngươi có mưu gì dẹp được quân Tấn ?
Vu-Lang nói :
- Vua Tấn vừa thắng trận, ra chiều tự đắc lắm !
Tôi xin giả cách làm một mật thư, ước với vua Tấn đêm hôm nay mở cửa thành để
ra hàng, chờ khi vua Tấn kéo quân vào, phục binh bắn chết.
Tào Cung-Công y kế.
Vu-Lang đưa mật thư cho Tấn xin làm nội ứng.
Tấn Văn-Công tiếp được thư toan tiến quân vào thành nước Tào.
Tiên-Trẩn nói :
- Nước Tào chưa thiệt hại bao nhiêu mà đã xin hàng, chắc có mưu kế chi đây,
xin để tôi xem thư đã.
Nói xong, liền chọn một người mặt đẹp, râu dài, giả làm Tấn Văn-Công tiến vào
thành nước Tào.
Bột-Ðề xin tình nguyện làm người đánh xe, để tìm cơ ứng biến.
Ðêm ấy, trên mặt thành đều cắm cờ hàng, bốn cửa thành đều mở rộng để đón Tấn
Văn-Công.
Tấn Văn-Công giả đem hơn năm trăm quân kéo vào.
Nhưng đoàn quân chưa vào được
một nửa thì cửa thành đóng xầm lại, binh Tào nỗi dậy bắn như mưa.
Bột-Ðề và cả đoàn quân chết sạch.
Tấn Văn-Công hay tin nỗi giận đốc quân vây thành rất ngặt.
Tào Cung-Công cả sợ nói :
- Kế ta không thành tựu, không giết được Tấn Văn-Công, bây giờ quân Tấn lại
hãm thành, biết liệu làm sao ?
Vu-Lang nói :
- Tuy không giết được Tống Văn-Công, nhưng giết được một số binh sĩ cũng đã
làm cho binh Tấn mất nhuệ khí. Bây giờ đem những xác chết đã giết được quăng
ngoài thành, để cho quân Tấn khiếp sợ, sinh lòng trễ biếng, đợi trong vài ngày
ắt có binh Sở đến cứu.
Tào Cung-Công nghe lời, truyền đem xác chết quăng ngoài thành .
Tấn Văn-Công thất kinh hỏi Tiên-Trấn :
- Quân Tào làm như thế, e quân ta thấy vậy sinh biến đi chăng ?
Tiên-Trân nói :
- Không hề chi ! Nay phần mộ nước Tào đều chôn ở ngoài thành, ta giả cách đem
quân quật mộ lên, chôn xác chết của binh sĩ ta, như vậy dân trong thành ắt
phải sợ mà sanh loạn. Ta sẽ thừa cơ tiến đến đánh.
Tấn Văn-Công khen phải truyền cho quân sĩ phao tiếng sắp quật mồ nước Tào.
Dân nước Tào hay được kêu khóc ầm-ĩ.
Tào Cung-Công sai người trèo lên mặt thành nói với quân Tấn xin tha đừng khai
quật mả, lần nầy xin thật tâm đầu hàng.
Tiên-Trấn cũng sai người trả lời :
- Nước ngươi đánh lừa giết quân ta. Lại quăng xác trên mặt thành. Quân ta nhất
định quật mả của tổ-tiên chúng bây mà chôn xác quân ta. Nếu muốn, quân ta rút,
bây phải vào bảo với Chúa bây khâm liệm các xác chết tử tế.
Người nước Tào trả lời :
- Nếu vậy thì xin hoãn lại trong ba ngày .
Tiên-Trấn nói :
- Nếu trong ba ngày mà không khâm liệm xác binh ta cho tử-tế, ta quyết làm
nhục đến tổ tiên nhà các ngươi.
Tào Cung-Công quả nhiên đem những xác chết quân Tấn trên mặt thành xuống khâm
liệm.
Tiên-Trẩn mật sai Hồ-Mao, Hồ-Yến, Loan-Chi, Tư-Thần chia quân làm bốn đạo mai
phục sẵn chờ quân Tào mở cửa thành đem xác chết ra trả, sẽ ùa vào.
Ðến ngày thứ tư, Tiên-Trẩn sai người đứng dưới thành quát lớn :
- Ngày hôm nay có giao trả thi thể của quân ta không ?
Người nước Tào đứng trên thành nói :
- Xin quí-quốc kéo quân ra khỏi thành năm dặm, nước tôi sẽ giao trả.
Tiên-Trẩn nói với Tấn Văn-Công :
- Xin cứ lui binh cách năm dặm.
Binh Tấn vừa lui, binh Tào mở cửa thành xe xác chết ra.
Bốn đạo binh phục của quân Tấn thừa cơ tiến vào.
Tào Cung-Công đang đứng trên mặt thành, Ngụy-Thù nhãy lên trói lại.
Vu-Lang nhẫy qua thành bỏ trốn bị Ðiên-Hiệt chém chết.
Tấn Văn-Công dẫn các tướng vào kiểm điểm binh mã sổ sách, kho tàng.
Ngụy-Thù giải Tào Cung-Công vào nạp, còn Ðiên-Hiệt đem đầu Vu-Lang đến dâng.
Tấn Văn-Công truyền giam Tào Cung-Công vào ngục, đợi đánh xong nước Sở sẽ luận
tội.
Còn các quan triều thần nước Tào cũng đều bị bắt giam và tịch thu tài sản, phân
phát cho các tướng sĩ .
Tấn Văn-Công thấy trong số triều thần nước Tào không có tên Hi Phụ-Cơ, mới hỏi
dân chúng.
Dân chúng thưa :
- Hi Phụ-Cơ vì cớ khuyên vua Tào giảng hòa với Tấn, nên bị vua Tào cách chức
rồi .
Tấn Văn-Công nhớ ơn Hi Phụ-Cơ đem vật thực đến cho mình trong lúc lưu vong,
nên ra lệnh còn không ai được xâm phạm đến nhà Hi Phụ-Cơ và nơi vùng Hi Phụ-Cơ
ở.
Ðoạn chia quân một nửa đóng trong thành, còn một nữa kéo về đại trại.
Ngụy-Thù và Ðiên-Hiệt cậy nhiều công-trạng nên có ý kiêu ngạo, nay thấy Tấn
Văn-Công trọng đãi Hi Phụ-Cơ như vậy đem lòng ganh tị.
Ngụy-Thù nói với Ðiên-Hiệt :
- Chúng ta theo Chúa-công đánh Tào, bắt vua chém tướng. Biết bao công-trạng,
thế mà Chúa-công không nói gì đến, lại báo ơn cho Hi Phụ-Cơ là kẻ chỉ thết đãi
một chút ít thực-phẩm trong lúc lưu-vong. Thế thì sao gọi công-bằng ?
Ðiên-Hiệt nói :
- Người ấy như chịu làm quan ắt Chúa-công trọng dụng. Chừng ấy vì lẽ thân sơ
chúng ta không khỏi tủi-hờn. Chi bằng chúng ta cho một mối lửa, ném lửa đốt
chết hắn đi, để tránh điều nhục nhả về sau.
Ngụy-Thù khen phải. Hai người cùng nhau nâng chén tâm giao.
Đêm ấy, trăng vừa lên khỏi đỉnh đầu, hai người kéo quân đến vây nhà Hi Phụ-Cơ
phóng hỏa, lửa cháy ngất trời.
Ngụy-Thù đang say rượu, cậy có sức khõe trèo lên mái nhà, quyết tìm Hi Phụ-Cơ
giết. Chẳng ngờ mái nhà bị sập xuống. Ngụy-Thù té lăn xuống đất, bị mấy cây gỗ
đang cháy ngã đè bỏng ngực.
Ngụy-Thù thất kinh nhẫy thoát ra ngoài, vết nhưng bỏng quá nặng, Ngụy-Thù
không đi được nữa, nằm mọp xuống đất rên-rỉ .
Ðiên-Hiệt trông thấy, cởi áo đắp cho Ngụy-Thù rồi vực lên xe đem về.
Hồ-Yến và Tư-Thần trong thành trông thấy nhà Hi Phụ-Cơ bị cháy vội đem quân
đến chữa, nhưng đến nơi thì nhà đã cháy tan cả rồi.
Hi Phụ-Cơ đem mấy người đi chữa, bị khói xông vào mắt ngã lăn xuống đất, bất
tỉnh.
Vợ Hi Phụ-Cơ ẳm đứa con nhỏ mới lên năm tên Hi-Lộc, chạy ra sau vườn, đứng núp
bên bờ ao. Nhờ vậy mới thoát nạn.
Hồ-Yến và Tư-Thần dò xét biết được Ngụy-Thù và Ðiên-Hiệt phóng hỏa, thất kinh
vội-vàng sai người sang đại-dinh báo với Tấn Văn-Công.
Ðại-dinh đóng cách xa năm dặm, đêm thấy ngọn lửa không hiểu là chuyện gì, sáng
ra Tấn Văn-Công tiếp được tin, mới rõ sự tình, bèn đến thăm Hi Phụ-Cơ.
Hi Phụ-Cơ bị phỏng nặng. Nằm liệt trên giường, khi Tấn Văn-Công đến thăm, Hi
Phụ-Cơ chỉ mở mắt nhìn rồi một lúc sau tắt thở.
Tấn Văn-Công thương xót, liền phong cho đứa con Hi Phụ-Cơ mặc dầu mới năm
tuổi, chức Ðại-phu. Lại cấp vàng lụa, tiền bạc rất nhiều để vợ Hi Phụ-Cơ về
tống táng chồng.
Ðoạn cho người đem cả hai mẹ con Hi Phụ-Cơ về nước Tấn .
Tấn Văn-Công thấy Ngụy-Thù và Ðiên-Hiệt bất tuân mệnh vua muốn bắt đem chém.
Triệu-Thôi nói :
- Hai người ấy có công cực khổ trong mười chín năm lưu-vong, nay lại có công
trạng rất lớn xin Chúa-công dung thứ.
Tấn Văn-Công nói :
- Sở dĩ ta có uy-tín đối với dân chúng là nhờ ở pháp luật nghiêm minh. Bề tôi
không trọng pháp-luật thì không phái là bề tôi !
Phạm pháp mà không bị pháp-luật trừng trị, là pháp luật không nghiêm minh. Nếu
những kẻ ỷ có công-trạng không kể đến pháp-luật thì ta còn thi-hành pháp luật
làm sao ?
Triệu-Thôi nói :
- Chúa-Công luận rất phải. Song Ngụy-Thù là một dõng tướng nếu có phạm tội thì
tội ấy quyết không phải tội phản vua. Tài năng của Ngụy-Thù trong hàng tướng
tá ít kẻ bằng, xin Chúa công nên lưu dụng, chỉ giết một mình Ðiên-Hiệt cũng đủ
làm gương rồi !
Tấn Văn-Công nói :
- Ta nghe Ngụy-Thù bị thương nặng thế nào cũng chết. Nếu vậy còn tiếc gì chẳng
trị tội để giữ cho pháp luật được tôn trọng ?
Triệu-Thôi nói :
- Tôi xin đến thăm Ngụy-Thù. Nếu Ngụy-Thù còn mạnh, xin Chúa-Công tha cho viên
hổ tướng ấy để dùng về sau.
Tấn Văn-Công nhậm lời.
Triệu-Thôi tuân mệnh ra đi.
Hết Hồi 39 - Ðông Châu Liệt Quốc
Xem Hồi 40