Hồi 41 - Ðông Châu Liệt Quốc
Thành Đắc-Thần rút gươm tự tử
Tấn Văn-Công phụng mệnh đăng đàn
Đấu Việt-Tiêu và Thành Đại-Tâm không đuổi theo Kỳ Mãn, kéo thẳng vào đại
quân của Tấn.
Bỗng thấy có hai toán binh Tấn đến tiếp ứng, cầm đầu là Tuân Lâm-Phủ và
Tiên-Miệt.
Đấu Việt-Tiêu hét lớn :
- Ta thề tuyệt không để một tên quân Tấn nào sống sót.
Nói chưa dứt lời bỗng thấy Tiên-Trẩn kéo binh đến.
Thành Đại-Tâm cả sợ, đoán biết hai toán quân tả đội và hữu đội của Sở đã tan
rồi.
Thành Đại-Tâm muốn lui binh nhưng không kịp, bị quân Tấn vây chặt.
Thành Đại-Tâm cố sức đánh vỡ vòng vây để đưa cha là Thành Đắc-Thần chạy trốn.
Hai cha con Thành Đắc-Thần thoát được vòng vây rồi mới gặp Đấu Việt-Tiêu, ba
người nhìn nhau thở dài.
Đấu Việt-Tiêu nói :
- Quân Trần, Sái, Trịnh, Hứa, cả thua bõ chạy về nước hết rồi !
Thành Đắc-Thần nói :
- Ta không ngờ Tiên-Trẩn dụng binh thần tình như vậy. Bây giờ quân các nước đã
chạy hết, ta phải thu tàn quân trở về giữ trại rồi sẽ liệu.
Ba người dẫn một số tàn quân trở về, thì dinh trại đã bị quân Tấn chiếm cả
rồi, bao nhiêu vũ khí lương thực đều bị chở đi hết sạch.
Thành Đắc-Thần bất đắc dĩ phải trèo qua núi đi về ngã sông Thu-Thủy.
Đi gần đến nơi thấy Đấu Nghi-Thân và Đấu-Bột cũng dẫn một mớ binh thua vừa
chạy đến.
Thành Đắc-Thần nói :
- Vì cớ nào mà hai tướng để tả đội và hữu đội binh ta tan vỡ ?
Hai viên bại tướng thuật lại kế dụ địch của quân Tấn. Tướng sĩ đều le lưỡi lắc
đầu, người người lòng chưa hết kinh sợ.
Thành Đắc-Thần than :
- Đã thất trận thì còn mặt mũi nào kéo quân về nước. Lúc đi thì binh hùng
tướng mạnh, lúc về thảm bại như vầy còn thấy Đại-vương làm sao ?
Đoàn quân thua của Thành Đắc-Thần vừa kéo đến đất Không-Tang, bỗng nghe mấy
tiếng pháo hiệu, rồi có một toán quân kéo ra chặn đường, cầm đầu là Ngụy-Thù.
Nguyên Ngụy-Thù vâng lệnh Tiên-Trẩn ra phục nơi đây để chận bắt tàn quân của
Sở, nay quân Sở thua liểng xiểng kéo về, lòng mừng rỡ vung giáo nhãy ra hét
lớn :
- Tướng Sở ! Đừng hòng chạy đi đâu cả. Còn bao nhiêu tướng sĩ phải để lại đủ
bao nhiêu thủ cấp cho ta thì ta mới nghe.
Nói xong, hô quân sĩ vây đám tàn quân của Thành Đắc-Thần vào giữa .
Thành Đắc-Thần ngước mặt lên trời than :
- Mạng chúng ta khó toàn được !
Ngụy-Thù là một dũng tướng, trước kia theo Sở Thành-Vương đi săn, dám đánh con
Mạc thú, nay quân Sở thấy Ngụy-Thù ai nấy đều biến sắc.
Đấu Nghi-Thân và Đấu-Bột bất đắc dĩ phải xông ra đánh với Ngụy-Thù để bảo vệ
Thành Đắc-Thần, nhưng đánh không lại.
Đang cơn nguy cấp bỗng có một người phi ngựa đến, gọi Ngụy-Thù nói :
- Chúa-công truyền lệnh bảo tướng quân phải giải binh tha cho binh Sở để đền
cái ơn Sở Thành-Vương ngày trước.
Ngụy-Thù tuân lệnh, giải binh kéo về.
Thành Đắc-Thần thoát chết cùng với các tướng cắm đầu chạy.
Chạy đến đất Liên-Cốc (thuộc nước Sở) mới dám dừng lại, nói với tướng sĩ :
- Ta đem quân đánh Tấn là muốn làm nỗi uy danh nước Sở, chẳng ngờ lại làm cho
nước Sở mang nhục, thật đáng tội chết.
Nói xong, truyền đóng quân nơi Liên-Cốc, sai con là Thành Đại-Tâm đến
Thân-Thành yết kiến Sở Thành-Vương để xin tội.
Thành Đại-Tâm đến nơi, Sở Thành-Vương trông thấy nổi giận, mắng :
- Cha ngươi đã hứa nếu không thắng Tấn chịu tội chết, nay còn đến đây kêu ca
gì nữa.
Thành Đại-Tâm sụp lạy nói :
- Cha tôi biết tội đã nhiều, toan liều mình tự tử, nhưng tôi cố ngăn lại để
Đại vương áp dụng pháp luật cho được nghiêm minh.
Sở Thành-Vương nói :
- Phép nước xưa nay, hễ ai bị thua giặc đều không có quyền sống. Các tướng nên
tự liệu lấy mình, chớ để làm bẩn lưỡi gươm của ta.
Thành Đại-Tâm thấy Sở Thành-Vương không có ý thương xót, gạt nước mắt cúi lạy
lui ra, sai người đến Liên-Cốc báo cho Thành Đắc-Thần biết.
Thành Đắc-Thần than :
- Giả sử vua Sở có thương tình tha chết cho ta, ta cũng không còn mặt mũi nào
sống trên cõi đời nầy nữa.
Nói xong, ngoảnh mặt về phía Bắc lạy hai lạy rồi rút gươm tự vận.
Lúc bấy giờ Vĩ Giả là con Vĩ Lã-Thần, nghe tin Thành Đắc-Thần thất trận, mới
hỏi cha :
- Thưa phụ thân, con nghe Thành Đắc-Thần bị thất trận, chẳng biết Đại vương
nghĩ xử như thế nào ?
Vĩ Lã-Thần nói :
- Thành Đắc-Thần cũng như các bại tướng đều xin tội chết, nhưng vua chẳng động
lòng thương.
Vĩ Giả nói Thành Đắc-Thần tánh khí ngang ngạnh mà kiêu ngạo, không làm việc
một mình được, nếu có một người mưu trí nữa giúp sức, ắt lập nhiều công trạng
lớn, sao phụ thân không tâu với vua lưu giữ lại mà dùng.
Vĩ Lã-Thần nói :
- Đại-vương đang lúc nóng giận, khó mà can gián.
Vĩ-Giả nói :
- Phụ thân không nhớ lời của người thầy đồng ở Phạm-ấp trước kia sao ?
Vĩ Lã-Thần hỏi :
- Người thầy đồng ấy nói thế nào ?
Vĩ-Giả nói :
- Người thầy đồng ấy tên Duật-Tự có tài xem tướng. Lúc Đại-vương còn làm Thái
tử, Duật-Tự có nói Đại vương cùng với Thành Đắc-Thần và Đấu Nghi-Thân sau nầy
đều chết bất đắc kỳ tử , đại vương nhớ lời ấy sau lên ngôi có ban cho Thành
Đắc-Thần và Đấu Nghi-Thân mỗi người một cái miễn tử bài, cốt làm cho lời thầy
đồng không linh nghiệm. Nay nếu phụ thân nhắc lại việc đó ắt vua tha tội cho
Thành Đắc-Thần.
Vĩ Lã-Thần nghe con nói tức khắc vào triều tâu với Sở Thành-Vương.
Sở Thành-Vương nói :
- Nếu ngươi không nhắc ta đã quên mất rồi.
Nói xong, truyền quan Đại phu Phan-Uông tức tốc đến Liên-Cốc tha chết cho
Thành Đắc-Thần và các bại tướng.
Phan-Uông đến nơi thì Thành Đắc-Thần đã tự vận chết rồi, còn Đấu
Nghi-Thân mới vừa treo cổ lên xà nhà, chưa chết, nên lúc có lệnh miễn tử quân
sĩ cứu xuống được.
Thành Đại-Tâm đến Liên-Cốc chôn cất cho cha cùng bọn Đấu Nghi-Thân, Đấu-Bột và
Đấu Việt-Tiêu đồng theo Phan-Uông trở về Thân-thành vào yết kiến Sở
Thành-Vương.
Sở Thành-Vương hay việc Thành Đắc-Thần đã tự vận lấy làm thương tiếc, liền
truyền tống táng theo nghi lễ, đoạn thâu quân trở về Kinh đô nước Sở, phong
cho Vĩ Lã-Thần lên thế chức Tể-tướng, truất Đấu Nghi-Thân ra làm quan trấn thủ
nơi Thương-Ấp và Đấu-Bột ra trấn thủ nơi Tương-thành.
Sở Thành-Vương lại nghĩ thương Thành Đắc-Thần nên phong cho con là Thành
Đại-Tâm và Thành Gia đều làm quan Đại-phu.
Lúc ấy quan cựu Tể-tướng nước Sở là Tử-Văn đã về trí sĩ, nghe tin Thành
Đắc-Thần bị thua, thở dài than :
- Quả như lời của Vĩ Giả ngày trước. Kiến thức ta thực không bằng một đứa con
nít, thật là xấu hỗ.
Từ đó Tử-Văn buồn bã lâm bệnh nặng.
Một hôm, gọi con Đấu-Ban vào nói :
- Chú con là Đấu Việt-Tiêu, từ lúc mới sinh ra, dáng đi hùng hổ, tiếng nói như
tiếng sài lang, đó là tướng diệt tộc. Nay Vi Lã-Thần tuy làm Tể-tướng nhưng
cũng chẳng sống được bao lâu nữa. Đấu Nghi-Thân và Đấu-Bột thì bị tội, không
thể lên thế chức ấy. Chỉ có Đấu Việt-Tiêu có hy vọng thay Vĩ Lã-Thần được. Tuy
nhiên, Đấu Việt-Tiêu là kẻ tàn ác, được cầm quyền chính tất sanh lòng phản
nghịch, dòng dõi họ Đấu ta ắt phải tuyệt tự. Khi ta chết rồi, nếu Đấu
Việt-Tiêu lên làm Tể-tướng, con nên trốn đi để tránh tai vạ.
Đấu-Ban sụp lạy xin vâng mạng. Cách ít ngày sau Tử-Văn qua đời. Rồi chẳng bao
lâu quan Tể-tướng Vĩ Lã-Thần cũng thất lộc.
Sở Thành-Vương nghĩ đến cái công Tử-Văn cho Đấu-Ban lên làm Tể-tướng, Đấu
Việt-Tiêu lên làm quan Tư-mã và Vĩ Giả làm quan Công-chính.
Nhắc qua Tấn Văn-Công thắng được Thành Đắc-Thần thu góp vũ khí lương thực rất
nhiều đem chia cho hai nước Tề và Tần.
Tề và Tần bái tạ, lui binh về nước, còn Tấn Văn-Công đóng Hữu-Sần ba ngày rồi
cũng kéo binh trở về kinh thành nước Tấn.
Khi đến sông Nam-Hà quân sĩ báo rằng dưới sông chưa thấy sữa soạn thuyền bè gì
cả.
Tấn Văn-Công ngạc nhiên sai người triệu Chu Chi-kiều đến hỏi nhưng chẳng thấy
Chu Chi-Kiều đâu cả.
Nguyên Chu Chi-Kiều trước đây là tướng nước Quắc, qua đầu Tấn. Đến lúc Tấn
Văn-Công đi đánh Sở, Chu Chi-Kiều đi theo, vẫn có ý lập công. Lúc sắp ra binh
đánh Sở, Tấn Văn-Công sai Chu Chi-Kiều đi sửa soạn thuyền bè chực sẵn ở sông
Nam-Hà, chờ đánh Sở xong độ binh trở về.
Chu Chi-Kiều thấy Tấn Văn-Công không để mình tham gia chiến trận có ý chẳng
bằng lòng. Giữa lúc đi, Chu Chi-Kiều lại tiếp được tin vợ bệnh nặng, bèn nghĩ
thầm :
- Tấn với Sở đánh nhau ắt còn lâu ngày, ta lẻn về nước Quắc thăm vợ đã.
Nghĩ rồi lên ngựa ra đi. Chẳng ngờ mới có sáu ngày Tấn Văn-Công đã dẹp được
binh Sở thu quân trở về.
Hay tin Chu Chi-Kiều bõ trốn.
Tấn Văn-Công cả giận, sai quân sĩ bắt thuyền của dân để qua sông.
Tiên-Trẩn thưa :
- Dân ở xứ Nam-Hà nầy nghe tin ta đánh được quân Sở , ai ai đều sợ hãi, nếu ta
sai quân sĩ bắt thuyền, tất nhiên họ bỏ trốn hết. Chi bằng mua lòng dân, bỏ
tiền ra thuê thì tiện hơn.
Tấn Văn-Công nhậm lời sai quân sĩ đi thuê thuyền.
Chẳng mấy chốc, thuyền dân chúng tập họp đến rất đông, đưa binh Tấn qua sông.
Tấn Văn-Công hỏi Triệu-Thôi :
- Ta báo thù được nước Tào và Vệ rồi còn Trịnh thì chưa làm gì được, ý ngươi
thế nào ?
Triệu-Thôi nói :
- Chúa công kéo binh sang nước Trịnh tự nhiên Trịnh phải sợ mà đầu phục.
Tấn Văn-Công nghe lời.
Đi được mấy ngày nữa, bỗng trước mặt có một đạo quân lố nhố đi đến, cầm đầu là
một võ quan.
Tướng đi đầu của đạo quân Tấn là Loan-Chi đón lại hỏi.
Viên võ quan nói :
- Ta đây là quan Khanh-sĩ nhà Châu, gọi là Vương-tử Hổ. Thiên tử nhà Châu hay
tin Tấn Văn-Công đánh được binh Sở, giữ được các nước Trung Nguyên nên có ý
đến khen thưởng. Vì vậy sai ta đến báo trước.
Loan-Chi vội vả đưa Vương-tử Hổ đến tiếp kiến Tấn Văn-Công.
Tấn Văn-Công hỏi Triệu-Thôi :
- Nay Thiên-tử muốn ngự giá đến đây để khao thưởng ba quân. Ta phải dùng lễ
nghi nào tiếp đón ?
Triệu-Thôi nói :
- Nơi đây cách Hành-Ung không bao xa, ở đó có nơi gọi là Tiến-Thổ, đất bằng và
rộng. Chúa công nên sai sửa sang hành cung rồi đem vua các chư hầu đi đón
Thiên-tử ngự tại đây, để cùng nhau triều kiến. Như thế mới khỏi trái đạo.
Tấn Văn-Công liền hẹn với Vương-tử Hổ đến ngày mùng một tháng năm sẽ rước
Thiên-tử sang Tiến-Thổ.
Vương-tử Hổ từ giã ra về.
Đại binh nước Tấn thẳng đường kéo sang Hành-Ung.
Đi được một quãng lại gặp sứ thần của nước Trịnh là Tử Nhân-Cửu đến xin hòa.
Nguyên vì Trịnh Văn-Công thấy binh Tấn đã thắng Sở , lòng sợ sệt lắm.
Tấn Văn-Công thấy sứ thần nước Trịnh cả giận nói :
- Nước Trịnh nghe tin quân Sở thua mới đến đây cầu hòa, thì thật vô lễ. Ta
triều kiến Thiên-tử xong sẽ cử binh sang phạt.
Triệu-Thôi nói :
- Chúa công đã đuổi vua Vệ, bắt vua Tào, lại phá được quân Sở. Oai danh lừng
lẩy, sá gì một nước Trịnh mà không dung thứ.
Xin Chúa công cứ cho Trịnh cầu hòa, sau nầy nếu Trịnh có đổi lòng sẽ đem binh
sang đánh cũng chẳng muộn.
Tấn Văn-Công theo lời cho nước Trịnh giảng hòa.
Khi đại binh kéo đến Hành-Ung, Tấn Văn-Công một mặt sai sửa soạn Vương cung,
một mặt sai người sang Trịnh để ký hòa ước .
Trịnh Văn-Công thân hành đến Hành-Ung để tạ ơn Tấn Văn-Công.
Tấn Văn-Công tiếp đãi vua Trịnh rất hậu.
Vương cung lập xong, Tấn Văn-Công phát hịch đi khắp các chư hầu hẹn đến ngày
mồng một tháng năm hội nơi đất Tiến-Thổ để triều bái Thiên-tử.
Lúc bấy giờ các nước chư hầu có mặt, chia ra các loại như sau :
- Tống Thành-Công (Vương Thần)
- Tề Chiêu-Công (Phan)
Đều là nhữg nước giao hiếu với Tấn từ trước.
- Lổ Hi-Công (Thân)
- Trần Mục-Công (Khoản)
- Sái Trang-Công (Giáp Ngọ)
Đều là một phe của nước Sở, nhưng sợ uy thế nước Tấn phải đến dự.
Còn các nước vắng mặt như :
- Hứa Hi-Công (Nghiệp).
Nước nầy thần phục Sở đã lâu, không muốn theo Tấn.
- Tần Mục-Công (Nhâm-Hiếu).
Dẫu có giao hiếu với Tấn, nhưng Tần Mục-Công xưa nay chưa lần nào dự hội với
Trung quốc, nên ngần ngại không đến.
- Vệ Thành-Công (Trịnh).
Vì bị quân Tấn đánh đuổi ra khỏi nước đang trú ngụ nơi đất Tượng-Ngưu.
- Tào Cung-Công (Tượng).
Hiện còn bị giam ở Ngũ-Lộc.
Hai nước Tào và Vệ tuy có nghe Tấn Văn-Công hẹn trả nước lại, nhưng chưa thấy,
nên không dám đến dự.
Vệ Thành-Công nghe Tấn Văn-Công họp chư hầu liền hỏi Ninh-Du :
- Vua Tấn họp chư hầu mà không nói gì đến nước ta cả, thế thì Tấn còn giận Vệ
nhiều lắm, ta phải đi tránh nơi khác là hơn.
Ninh-Du nói :
- Nếu Chúa công định trốn đi thì còn ai lo cho nước Vệ ? Chi bằng Chúa công
giả cách nhường ngôi cho Thúc-Vũ, khiến Nguyên-Huyến đưa Thúc-Vũ đến Tiến-Thổ
xin dự hội.
Nếu hội chư hầu thừa nhận Thúc-Vũ, thì sự có mặt của nước Vệ, tỏ ra nước Vệ
hãy còn. Mà nước Vệ còn là ngôi của Chúa công còn. Tôi xét Thúc-Vũ là kẻ hiếu
hữu, không lẽ nào lợi dụng cơ hội ấy mà đoạt ngôi luôn.
Vệ Thành-Công dẫu lòng không muốn nhưng hoàn cảnh ấy không thể làm cách nào
hơn, liền khiến Tôn-Viêm đến Sở-Khâu thay mặt mình mà trao ngôi cho Thúc-Vũ.
Kế đó Vệ Thành-Công lại hỏi Ninh-Du :
- Nay ta nên trốn sang nước nào ?
Ninh-Du ngần ngừ chưa đáp.
Vệ Thành-Công hỏi tiếp :
- Ta có nên sang nước Sở chăng ?
Ninh-Du nói :
- Sở đang cừu địch với Tấn. Vả lại trước kia ta đã đưa thư tuyệt giao với Sở,
nay còn đến đó sao, nên xin Chúa công sang nước Trần vì nước Trần sắp kết giao
với Tấn, sau nầy ta có thể nhờ cậy được .
Vệ Thành-Công nói :
- Trước kia ta đưa thư đoạn giao với Sở là do hoàn cảnh thúc ép, chớ đâu phải
do ý muốn của ta. Điều đó chắc nước Sở cũng biết. Vả lại, Tấn và Sở sau nầy
chưa chắc ai mạnh ai yếu. Thúc-Vũ đã theo Tấn, bây giờ ta lại theo Sở thì có
phải lại giữ được cả hai bên không ?
Vệ Thành-Công đi sang nước Sở, nhưng đến nơi bị quân Sở đuổi mắng, bất đắc dĩ
Vệ Thành-Công lại phải sang nước Trần.
Lúc bấy giờ Vệ Thành-Công mới biết lời nói của Ninh-Du là cao kiến.
Trong lúc đó Tôn-Viêm phụng mệnh Vệ Thành-Công đến Sở-Khâu giao ngôi lại cho
Thúc-Vũ .
Thúc-Vũ nói :
- Tôi xin quyền tạm để giữ nước mà thôi, dẫu Chúa công có muốn nhường ngôi tôi
cũng không dám nhận.
Nói xong, cùng với Nguyên-Huyến đến đất Tiến-Thổ để họp chư hầu, đồng thời sai
Tôn-Viêm về nói lại với Vệ Thành-Công rằng :
- Khi sang đến Tiến-Thổ thế nào cũng vì Vệ Thành-Công mà xin vua Tấn cho phục
ngôi .
Nguyên-Huyến bàn với Thúc-Vũ :
- Chúa công ta tánh đa nghi, mặc dù ngài thực tâm, song chưa chắc Chúa công đã
yên dạ.
Thúc-Vũ nói :
- Vậy biết làm cách nào để Chúa công an tâm ?
Nguyên-Huyến suy nghĩ rồi nói :
- Để tôi sai con tôi theo Ninh-Du qua đó làm con tin thì chắc Chúa công không
còn nghi ngại.
Nói rồi sai con mình là Nguyên-Đốc theo Tôn-Viêm sang nước Trần ở với Vệ
Thành-Công.
Công-tử Chuyên-Khuyến thấy thế nói nhỏ với Nguyên-Huyến :
- Chúa công chắc hẳn không trở về được, sao nhà ngươi không đem việc Chúa công
nhường ngôi ấy truyền bá cho người trong nước biết, rồi lập Thúc-Vũ lên làm
vua. Việc nầy, ắt vua Tấn sẽ không từ chối.
Nguyên-Huyến nói :
- Thúc-Vũ là một tôi hiền, hết lòng tử tế với anh, ta há lại quên vua sao ? Ta
đi phen nầy quyết xin cho Chúa công được phục ngôi nước Vệ.
Công-tử Chuyên-Khuyến hỗ thầm nín lặng lui ra. Lại nghĩ :
- Nếu sau nầy Vệ Thành-Công phục ngôi mà Nguyên-Huyến tiết lộ điều nầy thì ta
ắt phải chết.
Bèn bỏ qua nước Trần tìm cách nói dối với Vệ Thành-Công rằng :
- Nguyên-Huyến lập Thúc-Vũ lên làm vua, cậy có nước Tấn bảo vệ.
Vệ Thành-Công ngỡ thiệt đòi Tôn-Viêm đến hỏi.
Tôn-Viêm nói :
- Việc ấy tôi không được biết. Nay Nguyên-Huyến đã đưa con là Nguyên-Đốc sang
đây để làm tin, thì ắt không có manh tâm như vậy. Còn nếu có, xin Chúa công
hỏi Nguyên-Đốc sẽ rõ.
Vệ Thành-Công lại hỏi Nguyên-Đốc.
Nguyên-Đốc nói :
- Thúc-Vũ là người ngay thẳng, xin Chúa công chớ nghi ngờ.
Vệ Thành-Công bõ qua chuyện ấy.
Nhưng chẳng bao lâu, Công-tử Chuyên-Khuyến lại nói nữa :
- Tôi biết Nguyên-Huyến âm mưu phản phúc đã lâu. Nay cho con sang đây, ngoài
mặt được Chúa công khỏi nghĩ ngợi nhưng bên trong là để dò xét tình hình của
Chúa công mà phòng bị. Nếu Thúc-Vũ thật ý xin vua Tấn trả ngôi lại cho Chúa
công thì Thúc-Vũ không bao giờ góp mặt với chư hầu. Còn nếu Thúc-Vũ đã góp mặt
là có ý mưu đoạt ngôi đó.
Vệ Thành-Công nghe nói liền mật sai người đến Tiến-Thổ để xem tình hình
Thúc-Vũ.
Lúc đó, Châu Tương-Vương đã ngự ra Tiến-Thổ.
Tấn Văn-Công đem các chư hầu ra đón rước về Vương cung .
Các vua chư hầu lễ triều xong, Tấn Văn-Công đem các chiến lợi phẩm lấy được
của nước Sở dâng cho Châu Tương-Vương.
Châu Tương-Vương rất đẹp lòng, phán :
- Từ lúc Tề Hoàn-Công tạ thế, nước Sở ỷ mình xâm lấn các nước Trung Nguyên,
nay Tấn-hầu chế được Sở, giữ vững bờ cõi, chẳng những mình trẫm biết ơn, mà cả
các chư hầu thảy đều nhờ cậy.
Ngày hôm sau Châu Tương-Vương sai Vương-tử Hổ tuyên cáo phong cho Tấn Văn-Công
làm bá chủ chư hầu.
Tấn Văn-Công lập một cái đàn bên cạnh vương cung để cùng truyện các vua chư
hầu khai hội.
Tấn Văn-Công leo lên đàn trước, còn các vua chư hầu lục tục theo sau.
Nguyên-Huyến hôm trước đưa Thúc-Vũ vào yết kiến Tấn Văn-Công, được Tấn
Văn-Công đồng ý cho thay mặt vua nước Vệ dự hội. Vì vậy Thúc-Vũ được đứng phụ
ở cuối tờ ước thư.
Vương-tử Hổ tuyên đọc lời ước :
" Các nước đồng minh có nghĩa vụ cùng giúp nhà Châu, bảo vệ lấy nhau, nếu ai
phản phúc, đổi lòng, sẽ bị quỉ thần tru diệt".
Hết Hồi 41 - Ðông Châu Liệt Quốc
Xem Hồi 42