Hồi 44 - Ðông Châu Liệt Quốc
Thúc-Thiêm thọ hình cãi vua Tấn
Huyền-Cao lập kế khao quân Tần
Hồ-Yến nói với Tấn Văn-Công :
- Quân Tần dù đi nhưng chưa xa, tôi xin đem quân đi đuổi đánh. Hễ đánh thắng
quân Tần tất Trịnh phải hàng.
Triệu-Thôi nói :
- Không nên ! Ngày xưa nhờ Tần, Chúa công mới phục ngôi được. Thành Đắc-Thần
vô lễ mà Chúa công còn lui binh ba mươi dặm nhường quân Sở, huống chi vua Tần
! Vả lại không có binh Tần ta cũng đánh nổi Trịnh, có gì mà lo !
Tấn Văn-Công nghe nói truyền đình việc đuổi đánh binh Tần.
Ra lệnh chia quân bốn mặt vây thành Trịnh.
Trịnh Văn-Công hỏi Chúc-Vũ :
- Nhà ngươi có tài làm lui được binh Tần, vậy nhà ngươi có kế gì làm lui binh
Tấn nữa chăng ?
Chúc-Vũ nói :
- Tôi nghe vua Tấn yêu Công-tử Lan lắm. Nay ta sai người đón Công-tử Lan về mà
giảng hòa ắt vua Tấn cũng thuận theo.
Trịnh Văn-Công nói :
- Việc nầy phải nhờ đến lão đại phu giúp sức mới đặng.
Thạch Thân-Phủ nói :
- Thúc-Vũ đã nhọc lắm rồi, việc nầy xin để tôi đi thế.
Nói xong đem các lễ vật đến dinh Tấn xin vào yết kiến.
Tấn Văn-Công cho vào.
Thạch Thân-Phủ quỳ mọp xuống đất dâng lễ vật và nói :
- Chúa công tôi vì ở gần nước Sở sợ nước Sở quấy rối, bên ngoài tuy giả cách
giao hiếu, nhưng bên trong vẫn
thần phục Minh công. Nay Minh công đem quân đến đánh. Chúa tôi biết tội đã
nhiều, sai tôi đem lễ vật đến tạ tội. Chúa tôi có người em là Công-tử Lan nay
được hầu hạ Minh công, xin Minh công thương tình cho nước tôi giảng hòa. Nước
tôi xin đón Công-tử Lan về chung lo triều chính, không bao giờ dám đổi lòng.
Tấn Văn-Công nói :
- Nước ngươi lập kế lui binh Tần là có ý khinh nước ta một mình không đánh
nổi. Nay lại đến giảng hòa ấy là kế hoãn binh để đợi quân Sở đến cứu viện chứ
không thật lòng.
Thạch Thân-Phủ nói :
- Nếu có ẩn ý, Chúa công tôi đâu chịu rước Công-tử Lan về tham chính.
Tấn Văn-Công nói :
- Nếu muốn giảng hòa ta buộc hai điều một là đưa Công-tử Lan lên làm Thế-tử .
Hai là đem Thúc-Thiêm sang nộp cho ta thì mới được.
Thạch Thân-Phủ trở về nói lại với Trịnh Văn-Công.
Trịnh Văn-Công nói :
- Ta chưa có con trai, lập Công-tử Lan lên làm Thế-tử cũng được, còn
Thúc-Thiêm là tay chân của ta bỏ đi sao nỡ.
Thúc-Thiêm nói :
- Vua Tấn đòi bắt tôi mới chịu lui binh, lẽ nào tôi lại sợ chết để cho Chúa
công phải nhọ. Xin Chúa công cứ cho tôi đi.
Trịnh Văn-Công nói :
- Ta không nỡ để cho nhà ngươi đi, vì hễ đi ắt phải chết.
Thúc-Thiêm thưa :
- Chúa công không nỡ để cho tôi chết mà nỡ để cho trăm họ phải lầm than sao ?
Một mạng tôi cứu lấy trăm họ, Chúa công còn tiếc gì ?
Trịnh Văn-Công gạt lệ tiễn hành khiến Thạch Thân-Phủ đưa Thúc-Thiêm sang nói
cho Tấn Văn-Công và rước Công tử Lan về để lập Thế-tử.
Tấn Văn-Công y hứa, sai người về Đông-Đô rước Công-tử Lan đến để đưa sang nước
Trịnh .
Trông thấy Thúc-Thiêm, Tấn Văn-Công hét lớn :
- Loạn thần ! Ngươi giữ quyền bỉnh chánh nước Trịnh mà để vua Trịnh thất lễ,
bội ước với ta như vậy sao ?
Nói xong sai người nấu vạc dầu sôi để gia hình.
Thúc-Thiêm không hề sợ sệt, nói :
- Tôi đã sang đây dĩ nhiên là không sợ chết. Nhưng trước khi chết tôi có một
lời xin nói.
Tấn Văn-Công hỏi :
- Ngươi muốn nói lời gì ?
Thúc-Thiêm thưa :
- Khi trước Minh công lưu vong qua nước tôi, tôi có xin Chúa công tôi nên tiếp
đãi Minh công, vì thấy Minh công là người hiền, lại được có bầy tôi hiền phò
tá sau nầy ắt làm nên nghiệp bá. Đến khi hội chư hầu nơi Ôn-ấp, tôi lại khuyên
Chúa tôi một lòng thờ Tấn, chớ bội ước, nhưng trời không vì nước tôi, khiến
lời nói tôi không được động. Nay Minh công đòi bắt tôi, Chúa tôi thương tình,
không muốn cho tôi đi, nhưng tôi liều thân để cứu trăm họ. Tôi tự xét mình :
Mọi việc đều thấy trước được mà can vua, đó là người trí, một lòng giúp nước,
đó là người trung . Không tránh lúc hoạn nạn, đó là người dũng, liều thân cứu
trăm họ, đó là người nhân. Một người gồm cả : Nhân, trí, trung, dũng, thế mà
bị pháp luật nước Tấn xử tội !
Nói đến đây, Thúc-Thiêm, tay nắm vạc dầu nói lớn :
- Hởi các tôi thần nước Tấn, hãy xem tấm gương và sự trừng phạt của Thúc-Thiêm
nầy mà thờ chúa.
Tấn Văn-Công nghe nói động lòng, truyền tha tội cho Thúc-Thiêm, và nói :
- Nhà ngươi quả là một kẻ trung liệt.
Kế đó, Công-tử Lan ở Đông-Đô đến.
Tấn Văn-Công kể lại nội tình nước Trịnh với Công-tử Lan, rồi khiến Thúc-Thiêm
và Thạch Thân-phủ lấy lễ Thế-tử rước vào thành.
Trịnh Văn-Công lập Công-tử Lan lên làm Thế-tử, và Tấn Văn-Công rút quân về
nước.
Trong năm ấy bề tôi nước Tấn lần lượt qui thiên rất nhiều.
Như Ngụy-Thù vì say rượu, té gảy tay, bệnh cũ phát lại, hộc máu ra miệng mà
chết.
Tấn Văn-Công cho con là Ngụy-Khảo lên thế chức cha. Chẳng bao lâu Hồ-Mao,
Hồ-Yến cũng tạ thế.
Tấn Văn-Công thương xót chẳng cùng.
Tư-Thần thấy vậy nói với Tấn Văn-Công :
- Hồ-Mao, Hồ-Yến đã thất lộc, tôi xin tiến cử một người có thể làm khanh tướng
được.
Tấn Văn-Công hỏi :
- Nhà ngươi định tiến cử ai ?
Tư-Thần nói :
- Ngày trước tôi đi sứ qua một cánh đồng trông thấy một người đang cày ruộng,
người vợ bưng cơm đến hai tay dâng cho chồng, người chồng lể mể tiếp lấy, hai
vợ chồng đối đãi với nhau rất lễ nghĩa. Lúc người chồng ngồi ăn thì vợ đứng
hầu. Hai vợ chồng đối với nhau mà còn giữ lễ như vậy, huống hồ đối với người
khác.
Tôi liền đến hỏi. Té ra người ấy là con trai Khước-Nhuế tên Khước-Khuyết. Nếu
nước Tấn dùng được người ấy thì chẳng kém Hồ-Mao, Hồ-Yến.
Tấn Văn-Công nói :
- Khước-Nhuế trước kia có tội, nay chẳng lẽ ta lại dùng con ?
Tư-Thần nói :
- Cái hay cái dở giữa cha con không giống nhau. Nếu lấy điều bất tài của người
cha mà bỏ cái tài hữu dụng của người con thì không phải.
Tấn Văn-Công nghe theo, liền khiến Tư-Thần triệu Khước-Khuyết đến.
Tư-Thần nói :
- Tôi sợ Khước-Khuyết bỏ đi nước khác người ta dùng mất nên đã mời về ở tại
nhà tôi. Xin Chúa công sai sứ đến triệu, mới phải đạo cầu hiền .
Tấn Văn-Công liền sai nội thị đem mũ áo đến triệu Khước-Khuyết.
Khước-Khuyết vào triều sụp lạy, từ chối :
- Tôi là một kẻ quê mùa, được Chúa công cho sống yên thân, đó cũng đã là ơn
phước, đâu dám dự đến quan tước.
Tấn Văn-Công thấy Khước-Khuyết mình cao chín thước, mũi thon, mặt lớn, tiếng
nói sang sảng như tiếng chuông, có ý mừng thầm nói :
- Ta đã biết tài của ngươi, chớ nên từ chối.
Nói xong, nhóm họp triều thần sửa đổi việc chính trị , cho Tư-Thần làm Chánh
tướng ở đạo Hạ quân, Khước-Khuyết làm phó tướng. Lại cải Nhị hàng làm Nhị
quân, kêu là Thượng tân quân và Hạ tân quân.
Thượng tân quân thì có Triệu-Thôi làm tướng, Trịnh-Cơ làm phó.
Hạ tân quân thì có con Tư-Thần là Tư Anh làm tướng, Tiên-Đồ làm phó.
Như vậy, tức là xưa có ba đạo quân nay thêm hai nữa là năm, gần bằng lục quân
của Thiên tử.
Các anh hùng hào kiệt đều được sung vào quan chức.
Nước Sở thấy vậy sợ hãi, sai quan Đại phu Đấu-Tương sang Tấn cầu hòa .
Tấn Văn-Công nhớ đến ơn xưa nên không nỡ chấp trách, sai quan Đại phu Dương
Xử-Phủ sang Sở đáp lễ.
Cách một thời gian sau, Trịnh Văn-Công lâm bịnh nặng từ trần . Người nước
Trịnh đưa Thế-tử Lan lên nối ngôi, hiệu là Trịnh Mục-Công .
Cũng cùng năm ấy, Tấn Văn-Công bị đau, nhắm tuổi già không sống được nữa, liền
gọi Triệu-Thôi, Tiên-Trẩn. Hồ Xạ-Cô, Dương Xử-Phủ vào thỉnh mệnh :
- Nay ta tuổi già. Hơn nửa đời người mới lập nghiệp vì thế mà trễ tràng. Vậy
ta có qua đời, các người cố giúp Thế-tử Hoan làm vua, đừng để nghiệp bá bị suy
sụp.
Các quan cúi đầu lãnh mệnh.
Tân Văn-Công lại sợ các con mình sau nầy tranh chấp làm hư cơ nghiệp. Nên
khiến Công-tử Ưng (mẹ là Đồ Kỳ) qua làm quan nước Tần, Công-tử Lạc (mẹ là Trần
Dinh qua làm quan nước Trần, con út là Hắc-Điến qua chầu quan nơi Châu, cầu
Yên cũng Vương-Tất.
Tấn Văn-Công băng hà, ở ngôi được tám năm sống được sáu mươi tám tuổi .
Thế-tử Hoan lên ngôi hiệu là Tấn Tương-Công.
Tấn Tương-Công đem linh cửu Văn-Công chôn nơi Khúc-Ốc.
Khi động quan ra khỏi thành thì trong quan tài sôi sùng sục, và nặng trĩu,
khiến quân sĩ không làm sao khiêng nối. Ai nấy đều lo sợ.
Quan Thái-bốc Quách-Yến bói quẻ, ứng như vầy : "Loài chuột hướng Tây trèo sang
phá, vách ta có nhiều bẫy một lần đánh cả ba".
Quách-Yến nói :
- Trong ít hôm nữa sẽ có giặc đến quấy rối hướng Tây nước ta và ta tất thắng,
nên linh hồn tiên quân mách bảo đó.
Quần thần đều quỳ lạy. Trong quan tài không kêu nữa, và nhẹ như thường.
Tiên-Trẩn nói :
- Giặc Tây phương thì ắt là nước Tần rồi.
Liền cho quân do thám.
Thực vậy, từ lúc ba tướng Tần là Kỷ-Tử, Phùng-Tân và Dương-Tỗn thủ tại Bắc môn
nước Trịnh, thấy Tấn đưa
Công-tử Lan về lập Thế-tử, lòng giận lắm nói :
- Chúng ta thủ nơi đây là để giúp Trịnh, nay Trịnh lại đầu Tấn. Té ra ta không
còn chút công phu nào.
Nói xong cho người báo tin về nước.
Tần Mục-Công hay tin lòng cũng căm tức nhưng sợ thế lực của Tấn , chẳng dám
nói.
Kế đó, Công-tử Lan lên nối ngôi, xem bọn Kỷ-Tử không ra gì !
Ba người thương nghị với nhau :
- Bọn ta đóng nơi đây không biết ngày nào về nước, chi bằng xin Chúa công đánh
lấy Trịnh, dù thắng bại cũng được trở về sớm hơn .
Trong lúc họ đang bàn tính lại được nghe tin Tấn Văn-Công chết, Kỷ-Tử nói :
- Ấy là trời giúp ta nên công rồi đó.
Liền cho người về tâu với Tần Mục-Công.
Tần Mục-Công cho đòi Kiến-Thúc và Bá Lý-Hề vào thương nghị.
Hai người đồng can :
- Tần cách xa Trịnh hơn ngàn dặm nếu có đánh thắng cũng chỉ lấy được một ít
chiến lợi phẩm chứ làm sao
chiếm đất được.
Đã tốn công mà không lợi. Vả lại, ta đóng quân để bảo vệ nước Trịnh rồi nổi
lên đánh nước Trịnh là thất tín. Chúa công chớ ham lợi nhỏ mà bỏ nghĩa lớn.
Tần Mục-Công thở dài nói :
- Ta đã ba phen giúp cho Tấn, làm cho Tấn được thịnh vượng. Còn Tấn chỉ thắng
Sở một trận tại Thành-Bộc mà dựng nên nghiệp bá. Nay Tấn Văn-Công đã mất, ai
còn dám chống với ta. Nếu ta thừa dịp nầy lấy nước Trịnh đổi đất Hà-Đông cho
Tấn thì Tấn phải theo, sao gọi là bất lợi ?
Kiến-Thúc nói :
- Sao Chúa công không sai người sang viếng tang nước Tấn rồi sang viếng tang
nước Trịnh để dò xét nội tình hai nước trước đã.
Tần Mục-Công nói :
- Nếu đợi viếng tang rồi mới đem quân đi đánh thì trễ tràng, bất lợi cho binh
pháp.
Nói xong liền sai người mật báo với bọn Kỷ-Tử biết trước, hẹn đến thượng tuần
tháng hai hưng binh đánh Trịnh. Đồng thời sai Mạnh-Minh (con Bá Lý-Hề) làm
Chánh tướng, Tây Khất-Thuật và Kiến-Bính (con Kiến-Thúc) làm Phó tướng đem hơn
hai ngàn quân thẳng đường tiến đến
Bắc môn nơi thành Trịnh.
Khi Mạnh-Minh và Kiến-Bính đem quân đi, Bá Lý-Hề cùng Kiển-Thúc ra tiễn, khóc
mà bảo :
- Than ôi ! Hai con ra đi ắt không có ngày về !
Tần Mục-Công hay được giận lắm cho đòi Kiến-Thúc và Bá Lý-Hề vào trách :
- Sao các người lại khóc lúc quân hành làm cho ba quân nhụt chí ?
Bá Lý-Hề và Kiến-Thúc đồng thưa :
- Chúng tôi không dám khóc quân sĩ mà chỉ khóc cho tình riêng của hai đứa con
chúng tôi mà thôi.
Kiến-Bính thấy cha khóc muốn từ chối không đi.
Kiến-Thúc nói :
- Cha con ta ăn lộc nước Tần đã lâu, nếu chẳng may con có chết thì cũng báo
đền nợ nước, con chớ từ chối mà phụ lòng vua.
Nói xong liền đưa Kiến-Bính một bức thư, dặn :
- Con cứ theo lời trong thư nầy mà tính việc.
Kiến-Bính vâng lời lên ngựa xuất chinh, nhưng trong lòng buồn bã không an.
Còn Mạnh-Minh cậy tài vũ dũng, tin tưởng sự thành công, không hề lo nghĩ gì
cả.
Khi đại binh đi rồi, Kiến-Thúc cáo bịnh không vào triều và xin từ chức.
Tần Mục-Công cố nài ép nhưng Kiến-Thúc một mực xin lui về ở đất Diệt-Thôn.
Bá Lý-Hề đến tận nhà hỏi thăm, Kiến-Thúc nói :
- Quân ta đi chuyến nầy sẽ đại bại, hiền đệ mật báo cho Công Tôn-Chi sắp sẵn
mấy chiếc thuyền nơi sông Hoàng Hà để đón tàn quân. May ra các tướng thoát về
được còn có đường mà trốn.
Bá Lý-Hề nói :
- Tôi xin theo lời dạy bảo của hiền huynh. Lẽ ra tôi cũng từ chức theo hiền
huynh mới phải, song tôi còn
muốn nán lại để hy vọng được thấy mặt con tôi trở về.
Kiến-Thúc nói :
- Tùy lòng hiền đệ, chứ tôi đã không can được vua nên nhất quyết từ chức.
Nói xong lại làm biểu dâng lên.
Tần Mục-Công thấy Kiến-Thúc đã quyết xin về làm ruộng, liền tặng hai mươi cân
vàng một trăm tấm lụa.
Các quan triều thần kéo nhau đến viếng.
Bá Lý-Hề trở về đem lời của Kiến-Thúc nói lại với Công Tôn-Chi và dặn :
- Việc nầy Kiến tiên sinh không ủy thác ai mà ủy thác cho tướng quân là vì
tướng quân trung dũng, xin chớ tiết lộ với ai !
Công Tôn-Chi lĩnh ý, sắp sẵn mấy chiếc thuyền để ra đón nơi sông Hoàng Hà.
Còn Mạnh-Minh và Kiến-Bính kéo quân ra đi hơn năm mươi dặm.
Mạnh-Minh nhớ đến Kiến-Bính lúc ra đi, có mật thư của Kiến-Thúc, ý ngỡ trong
thư có kế hay nên bảo Kiến-Bính xem thư.
Kiên-Bính nghe lời mở thư ra đọc.
Trong thư viết :
"Chuyến đi nầy không lo gì quân Trịnh mà chỉ lo quân Tấn. Chỗ Hào-Sơn là địa
thế hiểm trở, nếu không khéo cha phải đến đó nhặt xương con".
Mạnh-Minh đọc thư xong mỉm môi cười.
Còn Kiến-Bính tuy nghe lời cha, song cũng không tin việc có thể hiểm nghèo đến
thế !
Hai người giục quân tiến bước. Qua đến cửa Bắc môn nhà Châu.
Mạnh-Minh nói :
- Nơi đây thuộc đất Thiên-tử, ta phải kính vi mới được.
Nói xong truyền quân xuống ngựa, lấy mũ.
Khi qua khỏi cửa Bắc môn, tướng tiên phuông là Bao Man-Tử, một kẻ có tài vũ
dũng liền lên ngựa phóng như bay.
Mạnh-Minh trông thấy khen :
- Giả sử ai cũng mạnh bạo như Bao Man-Tử thì lo gì không thắng giặc.
Các tướng sĩ nghe nói đều nhao nhao bảo nhau :
- Chúng ta lại thua Bao Man-Tử ư ?
Bấy giờ tướng sĩ đua nhau tiến quân như vũ bão.
Vua nhà Châu hay tin quân Tần kéo qua cửa Bắc môn liền khiến Vương-tử Hổ ,
Vương-tôn Mãn ra xem binh lực thế nào.
Hai người ra xem rồi trở về phục chỉ.
Vương-tử Hổ tâu :
- Binh Tần mạnh lắm, tiến như vũ bão. Sức hùng dũng ấy không có nước nào cự
nổi.
Vương-tôn Mãn đứng cười, không nói.
Châu Tương-Vương hỏi :
- Còn nhà ngươi, ý thế nào ?
Vương-tôn Mãn tâu :
- Cứ theo trang lễ, khi các nước chư hầu qua địa phận Thiên tử phải cởi giáp,
lấy mũ, xuống ngựa. Nay binh Tần chỉ có lấy mũ, xuống ngựa thì chưa trọn lễ.
Dùng binh mà chưa hiểu trọn lễ tất chưa phải mạnh.
Châu Tương-Vương bỏ qua câu chuyện ấy.
Lúc bấy giờ nước Trịnh có một người tên Huyền-Cao làm nghề buôn trâu. Từ khi
Vương-tử Đái nhà Châu thích
chơi trâu, các lái buôn ở nước Trịnh, Vệ, đem trâu đến bán rất nhiều, vì vậy
Huyền-Cao còn giữ nghề ấy.
Huyền-Cao dầu là người lái buôn nhưng có lòng ái quốc chỉ vì không có người
tiến dẫn nên chẳng ai biết đến.
Lúc ấy Huyền-Cao mới mua được mấy con trâu tốt, định đem sang nhà Châu bán.
Khi đến đầu bến Lê-Dương, gặp người bạn quen là Kiển-Tha mới nước Tần về.
Huyền-Cao hỏi Kiển-Tha :
- Nước Tần lâu nay có gì lạ chăng ?
Kiển-Tha nói :
- Trong tháng vừa rồi vua Tần có sai ba tướng kéo binh đánh Trịnh. Chẳng bao
lâu quân Tần cũng đi ngang qua đây.
Huyền-Cao giật mình nói :
- Trịnh là bản quốc của tôi, nay có chuyện chẳng lành, tôi đã biết mà không
cứu thì còn mặt mũi nào làm người dân.
Huyền-Cao vội từ giã Kiển-Tha rồi sai người phi báo với nước Trịnh.
Một mặt giả kế đem hai chục con trâu của mình làm thịt, đón quân Tần khao
thưởng để làm chậm bớt thời gian.
Chẳng bao lâu quân Tần kéo đến đất Diên-Tân.
Huyền-Cao ra đón lại nói :
- Tôi là sứ thần nước Trịnh, xin vào yết kiến.
Quân vào báo với Mạnh-Minh.
Mạnh-Minh giật mình nghĩ thầm :
- Tại sao nước Trịnh biết có quân ta đến mà sai sứ ra đón ? Ta phải tiếp kiến
xem sự thể thế nào ?
Nghĩ rồi ra lệnh cho Huyền-Cao vào.
Huyền-Cao giả cách phụng mệnh vua Trịnh nói với Mạnh-Minh :
- Chúa công tôi nghe ba vị tướng quân sắp sửa đem quân qua nước tôi nên sai
tôi đến dâng chút lễ mọn nầy để khao quân sĩ.
Mạnh-Minh hỏi :
- Vua Trịnh sai ngươi đến đây sao lại không có quốc thư ?
Huyền-Cao nói :
- Vì quân Tần đến gấp quá nếu chờ quốc thư thì không kịp tiếp đón. Bởi vậy chỉ
sai tôi ra đây bằng miệng, xin
các ngài thứ lỗi .
Mạnh-Minh ghé vào tai Huyền-Cao nói nhỏ :
- Chúa công tôi sai tôi đem quân đi đây là cốt đánh nước Hoạt chứ không phải
đánh Trịnh, xin quí quốc đừng sợ.
Nói xong truyền đóng quân lại nơi đất Diên-Tân, rồi cho Huyền-Cao trở về.
Tây Khất-Thuật và Kiến-Bính hỏi Mạnh-Minh :
- Tướng quân đóng binh lại đây là có ý gì ?
Mạnh-Minh nói :
- Quân ta xa xôi nghìn dặm kéo đến nước Trịnh cốt lợi dụng lúc bất ngờ. Nay
nước Trịnh đã biết mà đề phòng
thì khó thắng nổi. Như thế nghĩa là dự tính của ta đã hỏng, nếu miễn cưỡng ắt
mang hại lớn.
Kiến-Bính nói :
- Như vậy chẳng lẽ ta lại kéo binh về thì coi sao được ?
Mạnh-Minh nói :
- Tiện đây ta lẻn đánh nước Hoạt để khỏi mang tiếng là đem quân đi mà không
được việc gì. Đánh xong nước
Hoạt rồi sẽ liệu.
Đêm hôm ấy ba tướng đem quân vây thành nước Hoạt.
Vua nước Hoạt bỏ trốn sang nước Địch.
Quân Tần lấy được vũ khí và lương thực rất nhiều.
Sau khi binh Tần rút lui, nước Hoạt đã bị tàn phá sạch, nên nước Vệ thừa cơ
đến tiếm đoạt.
Còn Trịnh Mục-Công tiếp được mật báo của Huyền-Cao, chưa tin, sai người dọ
thám bọn Kỷ-Tử xem biến
động thể nào.
Bấy giờ đã thượng tuần tháng hai, bọn Kỷ-Tử đang sữa soạn quân mã và các đồ
khí giới đợi quân Tần đến hiệp sức công thành.
Quân sĩ về báo, Trịnh Mục-Công sợ hãi, sai lão đại phu Chúc-Vũ đến yết kiến
bọn Kỷ-Tử, biếu mỗi người một tấm lụa và nói :
- Các ngài đóng quân ở nước tôi lâu ngày nên sự cung đón đã mòn mỏi. Nay nghe
tin các ngài sữa soạn về nước, mà Mạnh-Minh cùng các tướng đem quân đến nước
Hoạt, sao các ngài không đi theo ?
Kỷ-Tử giật mình nghĩ thầm :
- Mưu kế của ta đã tiết lộ, dẫu quân Tần có kéo đến, vị tất đã đánh được
Trịnh. Thế thì tội ta không tránh khỏi.
Nghĩ rồi đêm ấy bỏ trốn sang nước Tề.
Phùng-Tân và Dương-Tỗn cũng sợ tội, bỏ trốn sang nước Tống.
Quân Tần đóng đồn ở đấy không chủ tướng, toan họp nhau làm loạn.
Trịnh Mục-Công hay tin lật đật sai Dật Chi-Hổ đem lương thực đến cấp phát cho
quân Tần tự ý về nước.
Đoạn ghi công cho Huyền-Cao, phong Huyền-Cao làm chức Quận-úy.
Từ bấy giờ nước Trịnh mới có đôi phần yên ổn.
Lúc đó Tấn Tương-Công đang cư tang nơi đất Khúc-Ốc, nghe tin nước Tần sai
Mạnh-Minh kéo đại binh về hướng Đông nhưng không biết sẽ đánh nước nào, liền
họp các quan đại thần thương nghị.
Tiên-Trẩn cho người dò thám hay tin quân Tần âm mưu chiếm Trịnh, liền vào yết
kiến Tấn Tương-Công .
Hết Hồi 44 - Ðông Châu Liệt Quốc
Xem Hồi 45