Hồi 45 - Ðông Châu Liệt Quốc
Mạnh-Minh lâm trận may thoát nạn
Tiên-Trẩn khinh thường thách bắn tên
Tiên-Trẩn Tâu :
- Vua Tần quyết đánh Trịnh, chẳng chịu nghe lời can của Bá Lý-Hề và Kiến-Thúc.
Nay đánh Trịnh không được, lòng các tướng còn lưỡng lự nên đồn binh tại đó suy
tính. Nếu ta đem binh thừa cơ đánh một trận, ắt trọn thắng.
Loan-Chi nói :
- Không nên ! Khi Tiên quân gần mất , có dặn chúng ta phải giữ niềm hòa hảo
với Tần. Nếu nay đánh Tần là không giữ lời mệnh của Tiên quân sao ? Chi bằng
đợi binh Tần đến, ta cho sứ sang xin Tần rút binh về, bằng họ cưỡng lời chừng
đó ta ra quân cũng chẳng muộn.
Tiên-Trẩn nói :
- Ta vẫn nhớ lời di mệnh của Tiên quân, song thấy Tần khinh ta thái quá. Khi
Tiên quân mất thì các nước chư hầu đều đến phúng điếu chia buồn duy có một
mình Tần làm ngơ mặt lạ . Vả Lại giữa Tần và Tấn có lời giao ước : Nếu có giặc
sẽ chung lo với nhau chống đở . Thế mà lúc hiệp binh vây Trịnh, Tần lại bội
ước rút quân về, nay thấy nước Tấn có tang lại đem binh xâm lấn.
Nếu ta không lo cự địch thì hóa ra ta phụ ơn của Tiên quân phó thác hay sao ?
Loan-Chi nói :
- Xin Nguyên soái đợi đến lúc Tần phạm đến bờ cõi ta sẽ ra quân.
Tiên-Trẩn nói :
- Khi trước Tần giúp Tấn quân phục quốc là muốn ra mặt kẻ cả nên khi thấy Tiên
quân làm nên nghiệp Bá, thì có ý ganh tị. Bề ngoài làm mặt thuận nhưng trong
lòng tìm cách hại
ngầm. Nay thừa lúc ta mắc tang xua quân lấy Trịnh. Nếu lấy đặng Trịnh mà thấy
ta bất ý sẽ qua đánh Tấn chừng ấy ta làm sao đề phòng cho kịp. Lời tục có nói
: "Một ngày tha giặc, di hại nhiều đời". Thấy nguy hại trước mắt mà không ngừa
sao cho phải ?
Triệu-Thôi nói :
- Tướng quân luận rất phải, ngặt Tấn đang có tang, e ra quân bất tiện.
Tiên-Trẩn nói :
- Đóng cửa cư tang là tận hiếu, nhưng diệt giặc giúp nước là tận trung. Nếu
các ngài cho đó là không phải, thì tôi xin đi một mình cũng đặng.
Các quan cực chẳng đã nên phải theo.
Tiên-Trẩn xin Tấn Tương-Công mặc tang phục cầm quân.
Tấn Tương-Công hỏi :
- Tướng quân liệu ra quân bao lâu thì yên việc ?
Tiên-Trẩn đáp :
- Tôi liệu binh Tần đem lương thực ít. Chỉ đánh trong bốn tháng thì xong. Vả
lại nơi biên giới Tần, có núi Hào-Sơn cây cối rậm rạp, đường sá quanh co hiểm
trở. Nếu ta đem binh mai phục nơi đó chận đánh một trận, binh Tần sẽ tan tành.
Tấn Tương-Công nói :
- Vậy Nguyên soái hãy điều khiển binh sĩ đến đó mai phục xong cho ta hay.
Tiên-Trẩn liền khiến con là Tiên Thả-Cư hiệp cùng Đỗ-Kích đem năm ngàn quân
mai phục nơi phía tả Hào-Sơn, sai Tư-Anh và Hồ Cúc-Cư đem năm ngàn quân mai
phục nơi phía hữu, sai Hồ Xạ-Cô và Hàn Tử-Dư đem năm ngàn quân qua phía Tây,
lăn cây đá ra ngăn đàng chận không cho quân Tần chạy về.
Lại sai Lương-Hoằng và Lai-Câu đem năm ngàn quân qua phía Đông núi Hào chờ
binh Tần qua vừa khỏi núi Hào thì rượt theo đánh.
Còn Tiên-Trẩn họp cùng Triệu-Thôi Loan-Chi, Tư-Thần, Dương Xử-Phủ và Tiên-Miệt
hộ giá Tần Tương-Công đến cách Hào-Sơn hai mươi dậm hạ trại, chia quân ra chờ
tiếp ứng.
Nhắc qua binh Tần đánh nước Hoạt, đoạt nhiều báu vật nên rút binh về. Khi đến
Miếu-Trì, Kiến-Bính nói với Mạnh-Minh :
- Đàng đi phía Tây rất hiểm trở. Cha tôi dặn phải đề phòng, xin Nguyên soái
lưu ý.
Mạnh-Minh cười, nói :
- Ta đem quân vượt ngàn dậm chẳng ra sao. Nay về đến ranh giới nước nhà lại sợ
hay sao ?
Tây Khất-Thuật nói :
- Nguyên soái tuy là hổ tướng song cũng phải để ý đề phòng, nếu binh Tấn mai
phục nơi đây rất bất lợi cho ta.
Mạnh-Minh nói :
- Các ngươi sợ binh Tấn quá thi đi sau để ta đi trước mở đàng cho. Như có gặp
ta sẽ đánh một trận cho quân Tấn khiếp oai.
Liền sai tướng mạnh là Bao Man-Tử trương cờ soái đi trước mở đường, kế đến là
quân của Mạnh-Minh, rồi đến quân của Tây Khất-Thuật, sau rốt là Kiến-Bính, nối
đuôi nhau kéo đi.
Bao Man-Tử có tiếng là mạnh, được lịnh giục binh tiến tới, tay cầm cây Phương
thiên họa kích múa như bay.
Khi đến phía Đông Hào-Sơn, bỗng nghe chiêng trống vang trời một đạo binh xông
ra, tướng cầm đầu chạy đến cản lại hỏi :
- Mi có phải Mạnh-Minh tướng Tần đó chăng ?
Bao Man-Tử hỏi :
- Ngươi là ai dám hỏi Nguyên soái ta ?
Tướng cản lộ nói :
- Ta là Tấn đại tướng Lai-Câu đây.
Bao Man-Tử nói :
- Ta là tướng Tần Bao Man-Tử đây, ngươi hãy về kêu Loan-Chi hay Ngụy-Thù đến
đánh với ta. Còn ngươi hãy dang ra cho ta đi kẻo mất mạng đó.
Lai-Câu cả giận huơi giáo đâm tới, Bao Man-Tử vẹt giáo đâm lại một kích,
Lai-Câu vẹt kích ra, chẳng dè kích quá nặng nên vẹt không được, lở trớn đâm
trúng thành xe dính cứng.
Bao Man-Tử lấy kích vích thành xe văng ra gảy nát .
Lai-Câu thất kinh nói :
- Tần tướng thật mạnh quá !
Liền kêu Bao Man-Tử nói :
- Thôi ta nhường cho ngươi đó, chớ hại đến quân ta.
Bèn rút quân tránh qua một bên đàng để Bao Man-Tử kéo quân đi thong thả.
Bao Man-Tử cho người trở lại báo với Mạnh-Minh rằng :
- Tướng Tấn đem binh mai phục bị Bao Man-Tử đánh tan rồi, xin Nguyên soái cho
tiến quân.
Mạnh-Minh nghe báo cả mầng, đốc quân tiến tới.
Còn tướng Lai-Câu trở về nói với Lương-Hoằng :
- Tướng Tần Bao Man-Tử quá mạnh tôi đánh không lại.
Lương-Hoằng nói :
- Dù cho nó mạnh đến đâu, mà bị mắc vào lưới sắt cũng khó ra, cứ để nó tiến
binh rồi ta phục mé sau đánh tới, binh nó kinh sợ lộn xộn ắt phải bại.
Bên binh Tần, Mạnh-Minh cùng hai tướng nghe tin vội kéo binh thẳng đến.
Ra khỏi phía Đông Hào-Sơn, đến những đoạn đường gập ghềnh lởm chởm rất khó đi.
Bao Man-Tử thấy không có binh phục nên báo cho Mạnh-Minh hay.
Mạnh-Minh truyền quân cởi giáp, xuống ngựa dẫn đi để khỏi té,
song quân sĩ đi liểng xiểng, không còn hàng ngũ gì hết.
Đến đoạn đường Thương Thiên-Thê, hai bên đá nhô ra, đường lại trơn trợt, càng
khó đi hơn.
Bỗng nghe đàng sau chiêng trống vang vầy, quân chạy đến báo :
- Có binh Tấn đuổi theo .
Mạnh-Minh nói :
- Ta đi đã khó thì bọn nó hơn gì. Chỉ ngại bị phục quân chận ở trước là nguy
hơn cả.
Nói rồi truyền Kiến-Bính lên ngựa đi trước, còn Mạnh-Minh trở ra sau đi đoạn
hậu.
Đi khỏi đó đến Đọa Mã Nhai rồi đến Tuyệt Mạng Nham, lại có quân chạy vội đến
báo :
- Phía trước có cây đốn bỏ cản đường, binh mã đi qua không được .
Mạnh-Minh hỏi :
- Cây ai ngăn đó ? Hay là quân Tấn phục binh đón ta chăng ? Đợi ta lên xem kỹ
sao ?
Đến nơi thì thấy trên đỉnh núi có tấm biển đề "Văn-Công tỵ vũ xứ" (chỗ Tấn
Văn-Công đụt mưa).
Kề bên đó có dựng cây cờ đỏ rất lớn. Bên dưới, cây đá bỏ ngổn ngang rất khó
qua.
Mạnh-Minh nói :
- Ấy là kế nghi binh.
Đoạn khiến quân nhổ cờ quăng xuống, dọn hết cây đá qua một bên mà đi.
Binh Tần đang lo thu dọn, xảy nghe phía trước quân Tấn la ó vang vầy, hai bên
cờ xí lô nhô.
Kiến-Bính khiến quân đề phòng chống cự .
Bỗng thấy một tướng đứng trên núi kêu lớn :
- Tiên phuông của bây đã bị ta bắt rồi, hãy đầu đi, bằng cãi lời chớ trách
binh Tấn độc ác.
Kiến-Bính nghe nói thất kinh, liền sai quân báo cho Tây Khất-Thuật và
Mạnh-Minh hay.
Mạnh-Minh thấy trước mặt một bên có con đàng tắt, đá lởm chởm, một bên là hố
sâu thăm thẳm, bèn nẫy ra một kế .
Liền truyền quân quay lại đi qua phía Đông núi Hào. Nơi ấy đàng rộng nối liền
thối binh dễ hơn.
Kiến-Bính vâng lịnh quày binh vừa đến Đọa Mã Nhai lại gặp Lương-Hoằng và
Lai-Câu giàn quân đứng đón.
Mạnh-Minh khiến quân leo qua khe tiến đi ngã khác, nào ngờ đi đặng ít dặm lại
gặp tướng Tấn là Tiên Thả-Cư kéo binh ra chận nói :
- Mạnh-Minh hãy hàng đầu kẻo chết !
Tiếp theo đó một tiếng pháo nổ vang dội, bên hữu có tướng Tư-Anh dẫn quân ra
chận .
Mạnh-Minh thất kinh chưa kịp đánh, binh Tần đã bõ chạy thoát thân. Lớp bị
giết, lớp bị binh Tấn bắt cầm tù, có lớp bị lọt xuống hố bỏ mình.
Mạnh-Minh lật đật kéo tàn quân hợp cùng hai tướng Tây Khất-Thuật và Kiến-Bính
mở đường máu kéo đến Đọa Mã Nhai.
Lúc ấy tướng Tấn là Hàn Tử-Dư đã sai quân đặt hỏa pháo và đồ dẫn lửa khắp Đọa
Mã Nhai mà chờ binh Tần.
Mạnh-Minh kéo tàn quân vừa đến Đọa Mã Nhai, xẩy thấy xung quanh lửa cháy mịt
mù, binh Tần lâm vào cảnh tấn thối lưỡng nan. Tới thì gặp lửa lui lại thì bị
binh Tấn chận giết.
Mạnh-Minh nói với Kiến-Bính :
- Cha ngươi thật là thần toán, nay ta chắc phải thác tại đây. Vậy hai ngươi
hãy giả dạng quân sĩ ráng trốn về sau nầy đem binh báo thù cho ta.
Tây Khất-Thuật và Kiến-Bính đều nói :
- Chúng ta đồng vâng lệnh đi chinh chiến, sống thác có nhau, lẽ đâu chúng tôi
bỏ tướng quân cho đành !
Nói vừa dứt lời thì binh Tấn đã đến gần.
Cả ba tướng hết phương chống cự đành bó tay chịu trói. Trận nầy binh Tấn toàn
thắng.
Các tướng Tần bị bắt và tất cả lương thực binh khí đã cướp được nơi nước Hoạt
đều bị binh Tấn giải về nạp cho Tấn Tương-Công.
Tấn Tương-Công hỏi tên họ ba tướng ấy. Đoạn hỏi Bao Man-Tử là người nào.
Lương-Hoằng chỉ Bao Man-Tử và nói :
- Bao Man-Tử là tên nầy. Y là một dõng tướng. Lai-Câu bị thua va một trận. Nếu
va không bị sa hầm, e khó bắt được .
Tấn Tương-Công nói :
- Để nó sống cũng khó cho ta.
Liền kêu Lai-Câu đến bảo :
- Nhà ngươi bị Bao Man-Tử đánh bại, vậy nay ta cho phép ngươi được giết nó cho
thỏa dạ.
Lai-Câu vâng mệnh, đem Bao Man-Tử trói vào cái cột giữa sân rồi rút kiếm toan
bổ vào đầu tội nhân.
Bao Man-Tử hét to :
- Tặc tướng mi đã đánh thua ta sao không biết xấu hổ còn trả thù một cách hèn
mạt !
Tiếng hét của Bao Man-Tử như sấm dậy, làm cho cả đến đài chuyển động.
Lai-Câu giật mình buông gươm xuống đất.
Bao Man-Tử vùng vẫy quá mạnh, các dây trói đều đứt nghiến.
Trong lúc Bao Man-Tử toan đứng dậy đoạt lưỡi kiếm của Lai-Câu, thì một viên
tiểu tướng tên Lang-Đàm đứng bên cạnh, trông thấy vội vàng cầm dao xông tới
chém Bao Man-Tử một nhát rụng đầu.
Tấn Tương-Công mừng rỡ nói :
- Tài vũ dũng của Lai-Câu không bằng một viên tiểu tướng.
Nói xong, liền cách chức Lai-Câu phong cho Lang-Đàm làm chức Xa-hữu.
Lang-Đàm tạ ơn lui ra, lòng hiu hiu tự đắc, không thèm đến yết kiến Nguyên
soái Tiên-Trẩn .
Tiên-Trẩn tuy không bằng lòng, song vì lệnh vua, không dám nói ra.
Ngày hôm sau Tấn Tương-Công cùng các tướng trở về Khúc-Ốc, định làm lễ ma chay
cho Tấn Văn-Công rồi sẽ giải bọn Mạnh-Minh về Kinh đô xử tội.
Lúc bấy giờ nàng Doanh Thị, vợ của Tấn Văn-Công (con gái nước Tần) cũng theo
đến Khúc-Ốc để cư tang cho chồng.
Nghe tin bọn Mạnh-Minh bị bắt, lòng buồn rũ rượi. Một bên là quê hương một bên
là giang san nhà chồng không biết phải vì bên nào. Tuy nhiên dầu sao nàng cũng
không thể làm ngơ trước sự đau đớn của xứ sở.
Doanh Thị giả cách vô tình hỏi Tấn Tương-Công :
- Ta nghe nói quân Tấn thắng trận bọn Mạnh-Minh bị bắt cả, đó là phúc lớn của
nhà. Chẳng hay bọn ấy đã bị hành hình chưa ?
Tần Tương-Công đáp :
- Phải để làm ma chay cho phụ thân xong rồi mới giải chúng về kinh đô xử trị.
Doanh Thị nói :
- Tấn và Tần xưa nay hai nước kết thân với nhau, nếu xẩy ra việc binh đao ấy
là các tướng đã tự động, muốn lập công chứ đâu phải do ý muốn của Tần. Nếu ta
tha cho bọn Mạnh-Minh về nước thì vua Tần cũng đem chúng giết đi. Vậy ta cần
gì phải giết cho thêm thù oán.
Tấn Tương-Công nói :
- Bọn Mạnh-Minh đang đắc dụng ở nước Tần, nay ta bắt được tha về sao tiện ?
Doanh thị nói :
- Quân pháp nước Sở, ai đem quân đi đánh giặc mà bị thua đều bị tội chết, vì
vậy Thành Đắc-Thần mới phải tự tử. Nước Tần quân luật cũng không kém gì Sở,
các bại tướng không thể dung tha.
Vả lại, trước kia nước Tần bắt được Tấn Huệ-Công, hết lòng trọng đãi và tha
về. Tần đã có ơn với ta như thế, ta nỡ nào vì mấy viên tướng ấy mà đem giết
cho mang tiếng bội ân ?
Tấn Tương-Công nghe Doanh Thị nhắc đến vua Tần tha cho Tấn Huệ-Công lúc trước,
lòng cảm động, tức khắc tha cho bọn Mạnh-Minh về nước.
Bọn Mạnh-Minh được tha, vội vã lên ngựa đi , không đợi vô lạy tạ.
Tiên-Trẩn đang ngồi ăn cơm nơi tư dinh, nghe tin Tấn Tương-Công tha bọn
Mạnh-Minh, vội vàng nhả miếng cơm, vào yết kiến Tấn Tương-Công, mặt hầm hầm
tức giận nói :
- Bọn tù nhân nước Tần đâu cả rồi ?
Tấn Tương-Công nói :
- Mẫu hậu xin tha về cho vua Tần giết, vì vậy ta đã tha về rồi.
Tiên-Trẩn nỗi giận nhiếc vào mặt Tần Tương-Công, mắng :
- Ôi chao ! Đứa ngu phu nầy chẳng biết gì cả ! Các tướng sĩ chịu trăm cay
nghìn đắng mới bắt được tướng Tần, nay vì một câu nói đàn bà mà thả hổ về
rừng, sau nầy dầu hối hận cũng không kịp nữa.
Tấn Tương-Công lúc bấy giờ mới nghĩ ra, lấy áo chùi mặt xin lỗi Tiên-Trẩn :
- Điều ấy ta xin chịu lỗi.
Đoạn ngoảnh lại hỏi các tướng :
- Có ai dám đuổi theo tướng Tần hay không ?
Dương Xử-Phủ xin đi, Tiên-Trẩn nói với Dương Xử-Phủ :
- Nếu tướng quân dùng lời nói khéo léo mà bắt lại được thì công của tướng quân
to lắm !
Dương Xử-Phủ lập tức lên ngựa truy phong, cầm gươm đuổi theo bọn Mạnh-Minh.
Bọn Mạnh-Minh từ lúc được tha trốn đi không dám dừng bước, cố thoát khỏi biên
giới .
Họ vừa đi vừa bàn bạc :
- Chúng ta cố qua khỏi sông Hoàng Hà mới chắc được sống. Nếu không sợ vua Tấn
hối hận cho người đuổi theo ắt khó lòng thoát được.
Khi đến sông Hoàng hà không thấy một chiếc chuyền nào cả.
Bọn Mạnh-Minh thở dài, nói :
- Thế nầy là trời muốn hại chúng ta rồi ?
Vừa dứt lời thấy có một ông lão đánh cá chèo thuyền nhỏ từ phía Tây đi đến, hí
hửng hát :
- Hà hơ... Ai chim lồng ai cá chậu, ai thoát nạn, ai ngẩn ngơ... Sống trong
nước chảy hững hờ... lòng ta đâu dễ làm ngơ với người...
Mạnh-Minh nghe câu hát có hàm ý lạ, vội kêu ông lão nói :
- Ông lão đánh cá kia ơi ! Hãy chở chúng tôi sang với.
Lăa đánh cá nói :
- Lão chỉ chở người Tần chứ không chở người Tấn.
Mạnh-Minh nói :
- Chúng tôi là người Tần đây, mau mau cho chúng tôi sang .
Lão đánh cá nói :
- Người Tần nào ? Có phải người Tần vừa bị thua trận nơi Hào-Sơn đó chăng ?
Mạnh-Minh nói :
- Chính phải rồi !
Ông lão đánh cá nói :
- Tôi phụng mệnh Công Tôn-Chi cắm thuyền nơi đây đón các ngài đã lâu. Chiếc
thuyền nầy nhỏ lắm không chở được, các ngài cứ men theo bờ sông đi lần về
hướng Tây độ nửa dặm sẽ có thuyền lớn chờ sẵn .
Lão đánh cá nói xong, chèo thuyền đi về hướng Tây.
Bọn Mạnh-Minh men bờ sông đi theo.
Độ nửa dặm quả nhiên có mấy chiếc thuyền lớn đậu ở dưới sông, cách bờ một
quãng ngắn, ông lão đã có mặt nơi đây lái thuyền vào bờ rước.
Bọn Mạnh-Minh vừa xuống thuyền thì trên bờ có một võ tướng phi ngựa đến. Đó là
Dương Xử-Phủ , tướng Tấn đuổi theo bắt Bọn Mạnh-Minh ai nấy đều sợ hãi.
Còn Dương Xứ-Phủ thấy bọn Mạnh-Minh đã xuống thuyền không biết làm sao, liền
nghĩ ra một kế kêu Mạnh-Minh nói :
- Tôi phụng mệnh Chúa công tôi đem con long mã nầy tặng cho tướng quân để tỏ
lòng kính mến, xin tướng quân nhận cho.
Dương Xử-Phũ định lừa Mạnh-Minh lên bờ rồi thừa cơ bắt , nhưng Mạnh-Minh nhất
định không lên, đứng dưới mũi thuyền đáp :
- Vua Tấn thương tình không giết, chúng tôi cũng đã đội ơn rồi, còn việc cho
ngựa, chúng tôi quyết không dám nhận. Xin hẹn năm nữa chúng tôi sẽ xin sang mà
tạ ơn vua Tấn.
Dương Xử-Phủ toan đáp lại, nhưng thủy thủ đã nhổ neo trương bườm thuyền vượt
ra giữa dòng xa thẳm .
Dương Xử-Phủ chán ngán, quày ngựa trở về đem lời nói của Mạnh-Minh tâu lại với
Tấn Tương-Công.
Tiên-Trẩn nói :
- Chúng hẹn ba năm nữa sang tạ ơn là có ý nói ba năm nữa sẽ phục thù đó. Chi
bằng đánh trước là hơn.
Tấn Tương-Công khen phải, bàn định với các tướng việc cất binh đánh Tần.
Tần Mục-Công từ khi được tin bọn Mạnh-Minh đã trở về nổi mừng không sao kể
xiết !
Các quan tâu :
- Bọn Mạnh-Minh thất trận, làm nhục nước Tần xin Chúa công đem giết đi để răn
quân sĩ.
Tần Mục-Công nói :
- Ta không nghe lời Bá Lý-Hề và Kiến-Thúc, lỗi đó về ta có can chi đến các
tướng.
Nói xong, liền thân hành đi đón. Rồi lại dùng Mạnh-Minh làm chánh tướng, có ý
trọng đãi lắm.
Bá Lý-Hề gặp con mừng rỡ khôn cùng .
Ngày hôm sau cáo lão về nhà nghỉ.
Tần Mục-Công dùng Công Tôn-Chi và Do-Dư làm tả hữu Thừa-tướng để thay cho Bá
Lý-Hề và Kiến-Thúc.
Giữa lúc Tấn Tương-Công đang cùng các tướng bàn mưu đánh Tần thì xảy có tin
báo vua nước Địch là Bạch Bộ-Hồ đem quân đến đánh, đã tiến vào đất Cơ-Thành.
Tấn Tương-Công kinh hãi, nói :
- Ta với nước Địch không có hiềm khích, tại sao vua Địch lại đem quân xâm lấn
bờ cõi ?
Tiên-Trẩn nói :
- Xưa Tiên quân ta (Tấn Văn-Công) lưu vong sang nước Địch. Vua nước Địch đem
hai người con gái là Thúc-Ngỡi và Quí-Ngỡi gả cho Tiên quân ta và Triệu-Thôi,
trong mười mấy năm trời vẫn một lòng trọng đãi. Khi Tiên quân ta về nước vua
Địch có sai người sang mừng lại đưa Thúc-Ngỡi và Quí-Ngỡi sang nước ta. Thế mà
Tiên quân ta không hề sai sứ sang tạ ơn, bởi vậy vua Địch đem lòng oán giận
nhưng không dám nói ra. Nay con là Bạch Bộ-Hồ lên ngôi, ỷ mình có sức mạnh đem
quân sang đánh.
Tấn Tương-Công nói :
- Tiên quân ta vì bận lo việc bá chủ, không nghĩ đến ơn riêng. Nay nước Địch
nuôi oán hờn vậy thì Nguyên soái vì ta mà đem quân dẹp loạn.
Tiên-Trẩn sụp lạy, nói :
- Khi trước Chúa công tha bọn Mạnh-Minh về nước, tôi vì quá nóng lòng mà vô lễ
với Chúa công, tội ấy Chúa công chưa xử phạt, thật tôi không đáng làm Nguyên
soái, xin Chúa công chọn người khác.
Tấn Tương-Công nói :
- Nguyên soái vì nước mà giận ta, đâu có lỗi gì ! Nếu ta có phạt các tướng
cũng chỉ vì nước chớ đâu phải vì cá nhân ta. Nay quân Địch xâm lấn nếu không
có Nguyên soái ta e chẳng ai cự nổi .
Tiên-Trẩn bất đắc dĩ phải tuân lời, cúi lạy bước ra than thầm :
- Ta vốn muốn liều chết với quân Tần, ai ngờ lại chết với quân Địch.
Sáng hôm sau, về đến Kinh đô, Tiên-Trẩn lên trước đài kiểm điểm binh mã, rồi
hỏi các tướng :
- Có ai dám ra lãnh chức tiên phong chăng ?
Vừa dứt tiếng có một tướng ngang nhiên bước ra nói lớn :
- Tôi xin lãnh chức ấy.
Tiên-Trẩn xem lại thì đó là Lang-Đàm, vừa mới được Tấn Tương-Công phong chức
Xa-hữu.
Nguyên Lang-Đàm trước đây ỷ mình được vua phong không đến yết kiến Tiên-Trẩn ,
nay lại xin đi tiên phuông nên Tiên-Trẩn có ý không bằng lòng, mắng :
- Ngươi là đứa vô danh tiểu tốt, chém được một tướng giặc lập công, tài cán
bao nhiêu mà dám nhận chức ấy.
Lang-Đàm nói :
- Tôi đem thân tình nguyện giúp nước, Nguyên soái chưa hiểu rõ được tài tôi
sao lại cản trở ?
Tiên-Trẩn nổi giận cách chức Lang-Đàm đuổi ra, cho Hồ Cúc-Cư thay vào.
Lang-Đàm cúi đầu thở dài, rồi lui ra, vừa giận vừa thẹn.
Ra đến ngoài đường, gặp Tiên-Bá, người bạn cũ.
Tiên-Bá hỏi :
- Tôi Nghe Nguyên soái đang tuyển tướng ra trận sao quí hữu lại thơ thẩn nơi
đây.
Lang-Đàm nói :
- Tôi tình nguyện đi tiên phuông đem sức giúp nước, bất ngờ gặp lúc Nguyên
soái nổi giận mắng tôi, rồi cách chức đuổi ra.
Tiên-Bá nghe nói nổi giận mắng :
- Tiên-Trẩn cậy công, trước kia mắng vua, nay lại bạc đãi người tài. Âu là ta
tìm mưu giết quách cho khỏi di hại về sau .
Lang-Đàm nói :
- Không nên ! Kẻ trượng phu mỗi hành động phải vì nghĩa ! Ta bị cách chức mà
thù oán, giết người có công thì Tiên-Trẩn được tiếng là cách chức một kẻ bất
nghĩa.
Tiên-Bá thở dài nói :
- Nhà ngươi quả là một nhân tài, luận việc rất cao kiến.
Nói xong cùng nhau trở về.
Tiên-Trẩn dùng con là Tiên Thả-Cư làm Tiên phuông, rồi đem quân sang đóng ở
Cơ-Thành.
Đến nơi, cho đòi các tướng họp mặt nói :
- Ở Cơ-Thành nầy có một cửa hang rất lớn, hai bên cây cối rậm rạp có thể phục
binh được, vậy Loan-Thuẫn (con Loan-Chi) và Khước-Khuyết đem hai đạo quân tả
hữu mai phục, chờ cho Tiên Thả-Cư dụ quân địch đến đó, xông ra chận đánh.
Lại khiến Hồ-Tấn (con Hồ-Mao) và Hồ Cúc-Cư đem quân tiếp ứng.
Ngày hôm sau, vua Địch là Bạch Bộ-Hồ đem hơn một trăm quân thiết kỵ kéo đến.
Tiên Thả-Cư ra nghênh chiến.
Đánh được mấy hiệp Tiên Thả-Cư bõ chạy.
Bạch Bộ-Hồ không biết mưu kế giục quân đuổi theo, bị Tiên Thả-Cư dụ vào hang.
Phục binh hai bên nổi dậy xông vào đánh, quân Địch chạy tán loạn.
Bạch Bộ-Hồ cả giận, tả xông hữu đột, giết quân Tấn rất nhiều, gần thoát ra
khỏi vòng vây.
Khước-Khuyết thấy vậy rút tên bắn ra một mũi trúng vào giữa mặt Bạch Bộ-Hồ.
Bạch Bộ-Hồ hét lên một tiếng rồi nhào xuống ngựa chết.
Khước-Khuyết chạy đến chặt đầu đem về nạp cho Tiên-Trẩn.
Thấy vua nước Địch đã chết, Tiên-Trẩn cả mừng ngữa mặt lên trời nói :
- Thật may cho nước Tấn !
Nói xong thảo một bức mật thư, niêm phong cẩn thận để trước án, rồi dẫn vài
tên tướng cạnh nhắm trận Địch xông tới.
Lúc đó em vua Địch là Bạch-Đôn chưa biết vua Địch đã chết, nên đem quân tiếp
ứng.
Vừa ra khỏi dinh gặp Tiên-Trẩn và mấy viên tướng Tấn xông đến.
Bạch-Đôn giục ngựa đến cản lại, bị Tiên-Trẩn hét lên một tiếng, con ngựa
Bạch-Đôn sợ quá lồng lên chạy lộn mấy vòng.
Bạch-Đôn thấy Tiên-Trẩn không có binh sĩ theo, liền truyền quân vây Tiên-Trẩn
vào giữa .
Tiên-Trẩn vung giáo, chém hơn ba mươi tên quân Địch, làm cho quân Địch kinh
hồn chẳng dám đến gần.
Bạch-Đôn truyền quân xạ kích, nhưng quân sĩ đã khiếp sợ tài vũ dũng của
Tiên-Trẩn, tay run lẩy bẩy không bắn trúng mũi nào.
Tiên-Trẩn nghĩ thầm :
- Ta đã quyết đến đây để chết, thì còn giết binh tướng của quân Ðịch làm chi.
Liền cởi áo giáp, đứng giữa trận, để cho quân Ðịch bắn.
Quân Ðịch bắn một hồi lâu xem lại thấy tên găm vào mình Tiên-Trẩn như lông
nhím, mà Tiên-Trẩn vẫn trợn mắt đứng trơ trơ không ngã.
Bạch-Ðôn lấy làm lạ hỏi ra mới biết đó là Nguyên-soái nước Tấn, liền sụp lạy
nói :
- Nếu Nguyên-soái bằng lòng để cho chúng tôi đem về nước Ðịch thờ thì xin ngã
xuống.
Tiên-Trẩn vẫn đứng yên như trước.
Bạch-Ðôn lại khấn nữa :
- Hay là Nguyên-soái muốn đưa về nước Tấn, tôi xin đưa về.
Lời khấn vừa dứt, Tiên-Trẩn ngã xuống đất.
Hết Hồi 45 - Ðông Châu Liệt Quốc
Xem Hồi 46