Hồi 47 - Ðông Châu Liệt Quốc
Tri âm, Long-ngọc theo Tiêu-Sử
Bội Tần, Triệu-Thuẫn lập Di-Cao
Châu Tương-Vương sai Doãn Vũ-Công đem bạc vàng đến ban thưởng cho Tần
Mục-Công.
Tần Mục-Công than phận gìa yếu không đến tạ ơn Thiên-tử được, nên sai Công
Tôn-Chi đi thế.
Công Tôn-Chi đi rồi, Do-Dư bị bịnh chết. Tần Mục-Công rất thương tiếc, phong
Mạnh-Minh làm Hữu Thừa-Tướng, dưới Công Tôn-Lại một bậc .
Ngày nọ, Công Tôn-Chi đi sứ trở về, thấy Tần Mục-Công quá trọng dụng Mạnh-Minh
nên có ý hờn liền xin cáo quan về vườn.
Tân Mục-Công có sinh được một người con gái. Lúc mới sinh có người đến dâng
cục ngọc quí sáng chói đủ màu. Khi đứa gái ấy sắp thôi nôi, cầm cục ngọc ấy
chơi hoài chẳng bõ. Vì vậy Tần Mục-Công đặt tên là Lộng-Ngọc.
Lộng-Ngọc lớn lên dung-nhan ít ai sánh lại, lại thông-minh hơn người, nàng
chẳng học nhạc mà tự nhiên biết thổi sáo.
Khi Lộng-Ngọc cầm sáo lên thổi nghe như chim phụng gáy .
Tần Mục-Công rất quí mến, nên cất cho nàng một biệt-thự riêng.
Biệt thự ấy đặt tên Phụng-lầu. Trước lầu lại có cái đài cao đặt là Phụng-đài.
Năm Lộng-Ngọc được mười lăm tuổi, Tần Mục-Công có ý muốn kén rễ.
Lộng-Ngọc nói :
- Người chồng sau nầy của con phải là một người biết thổi sáo như con, thì con
mới chịu.
Tần Mục-Công truyền rao khắp nơi, nhưng chẳng thấy ai thổi sáo hay cả.
Ngày kia, Lộng-Ngọc ở trên lầu thấy trời quang mây tạnh, liền sai thị-tì đốt
lò hương và lấy sáo ra thổi, giọng sáo nghe réo-rất não lòng.
Ngờ đâu có tiếng hòa lại bay theo gió đưa đến văng vẳng, lúc nhặt lúc khoan.
Lộng-Ngọc lấy làm lạ, ngưng thổi thì tiếng hòa cũng dứt chỉ còn văng-vẳng
dư-âm.
Ðến nửa đêm, Lộng-Ngọc lên giường nằm không quên đem ống sáo để bên mình.
Giây lát, giấc nồng thiêm thiếp nàng mơ thấy nơi phía Tây-Nam có một cái động.
Lúc cửa động mở ra, có một chàng trai trẻ xinh-đẹp, đầu đội mão tiên, mình mặc
áo hạc, bước ra leo lên lưng con thể phụng, bay đến trước Phụng đài nói :
- Ta là Chúa Thái-Hòa sơn, Thượng-đế dạy ta đến đây kết duyên với nàng. Ngày
Trung-thu đến đây sẽ hợp với nhau. Vậy đến nói trước cho nàng hay .
Nói xong, lần lưng lấy Xích-ngọc-tiêu ra thổi, con chim phụng cũng xòe cánh ra
múa theo tiếng tiêu ấy và cất tiếng gáy hòa với tiếng tiêu hợp thành một
âm-điệu tuyệt vời.
Lộng-Ngọc nghe qua tâm thần đê mê.
Ðến khi tiếng tiêu dứt liền hỏi :
- Chàng thổi khúc chi vậy ?
Người trai đáp :
- Ấy là khúc "Họa-Sơn ngâm".
Lộng-Ngọc lại hỏi :
- Khúc ấy thiếp học đặng chăng ?
Chàng trai đáp :
- Ðã nên duyên nợ rồi có khúc nào không học đặng .
Nói xong vội nắm tay Lộng-Ngọc.
Lộng-Ngọc giật mình thức dậy .
Trời sáng, nàng đem chuyện ấy thuật lại cho Tần Mục-Công .
Tần Mục-Công liền khiến Mạnh-Minh đến núi Hoa-Sơn tìm.
Mạnh-Minh ra đi, đến chân núi Hoa-Sơn, gặp một người nông-phu hỏi :
-Trên núi nầy có chàng trai nào ở không ?
Người nông-phu đáp :
- Trên đỉnh núi có một người trai trẻ đến ở từ hôm rằm tháng bảy. Mỗi ngày đều
xuống đây mua rượu uống. Người ấy thổi tiêu hay lắm. Cứ mỗi chiều thổi tiêu
một chập, tiếng tiêu thánh-thót khoan nhặt khiến ai cũng muốn nghe cả. Giờ còn
đang ở trên đó.
Mạnh-Minh lần bước lên đến chót núi, quả thấy một chàng trai đội mão tiên, mặc
áo hạc, mắt ngọc, môi son, cốt cách khác phàm, ra dáng tiên phong đạo cốt .
Mạnh-Minh bước tới cúi chào và hỏi tên họ.
Người ấy đáp :
- Tôi họ Tiêu tên Sử. Còn ngài là ai đến đây, có việc chi bảo :
Mạnh-Minh đáp :
- Tôi là quan Hữu Thừa-Tướng tại nước nầy tên Mạnh-Minh, nhơn Chúa tôi là Tần
Mục-Công có ý kén rễ cho con gái, người con gái ấy có tài thổi sáo hay lắm,
nên chỉ muốn có người chồng tri-âm . Chúa tôi nghe Ngài âm nhạc tinh-thông, có
ý muốn được diện-kiến. Vì vậy sai tôi đến rước ngài .
Tiêu-Sử nói :
- Tôi chỉ biết chút đỉnh để tiêu-khiển thì giờ, chớ tài chẳng có gì hay, thật
chẳng dám đến ra mắt Chúa-công.
Mạnh-Minh nói :
- Xin Ngài đến đó một phen, kẻo phụ lòng Chúa tôi mong đợi.
Hai người đồng xuống núi, lên xe về triều .
Ðến nơi, Mạnh-Minh vào trước tâu mọi việc cho Tần-Mục-Công hay rồi ra rước
Tiêu-Sử .
Tần Mục-Công ngồi trên Phụng-đài.
Tiêu-Sử vào quì lạy rồi tâu :
- Tôi là kẻ quê mùa nơi sơn dã, không thông lễ phép, xin Chúa-công rộng lượng.
Tần Mục-Công thấy hình dung Tiêu-Sử có vẻ khác phàm trong dạ cả đẹp, bèn mời
ngồi hỏi :
- Nghe ngươi có tài thổi tiêu, vậy có thổi sáo được chăng ?
Tiêu-Sử đáp :
- Tôi chỉ biết thổi tiêu mà thôi .
Tần Mục-Công nói :
- Ý ta muốn tìm người thổi sáo, sao quan Hữu Thừa-tướng lại dẫn người thổi
tiêu về ra mắt ?
Tần Mục-Công định sai Mạnh-Minh đưa Tiêu-Sử ra thì Lộng-Ngọc sai tỳ nữ quì tâu
:
- Tiêu hay sáo cũng giống nhau. Ðã vời người tới đây rồi, xin Chúa-công cho
thổi thử xem hay dở thế nào ?
Tần Mục-Công thuận ý liền khiến Tiêu-Sử thổi.
Tiêu-sử lấy ra một ống ngọc tiêu chiếu sáng ngời thật là một bảo vật trên đời
hiếm có.
Tiêu vừa cất tiếng, gió thổi hây hây, các giống chim nghe tiếng tụ họp đến,
kêu hát líu lo.
Tần Mục-Công rất bằng lòng.
Lộng-Ngọc đứng trong rèm nghe tiếng tiêu giống tiếng đã nghe trong giấc mộng,
lòng mừng rỡ, nghĩ thầm :
- Quả là lương duyên của ta đây rồi !
Tần Mục-Công lại hỏi Tiêu-Sử :
- Nhà ngươi có biết ống tiêu và ống sáo làm ra từ đời nào chăng ?
Tiêu-Sử thưa :
- Ống sáo làm từ đời Nữ-Oa, ống tiêu làm từ đời Phục-Hi.
Tần Mục-Công hỏi :
- Vậy ngươi thử kể nguyên ủy hai nhạc khí đó cho ta nghe.
Tiêu-Sử thưa :
- Nghề tôi ở ống tiêu, vậy xin chỉ nói đến ống tiêu thôi :
Ngày xưa vua Phục-Hi ghép trúc làm ống tiêu, chế theo hình chim phượng. Tiếng
thổi cũng giống như tiếng chim phượng gáy.
Thứ lớn gọi là Nhã-tiêu, ghép liền hai mươi ba ống, dài một thước bốn tấc .
Thứ nhỏ gọi là Tụng-tiêu, ghép liền mười sáu ống, dài hai thước một tấc.
Cả hai thứ ấy gọi chung là Tiêu-quản.
Còn thứ không có đáy gọi là Ðống-tiêu.
Về sau Hoàng-Đế sai Linh-Luân lấy trúc ở Côn-khê chế làm ống địch.
Ống địch có bảy lổ, cầm ngang mà thôi, cũng giống tiếng chim phượng, nhưng ống
địch trông giản tiện lắm.
Người đời sau trông thấy ống tiêu quá phiền phức nên dùng ống địch, cầm thổi
dọc. Thứ dài gọi là tiêu, thứ ngắn gọi là địch.
Bởi vậy ống tiêu ngày nay không phải giống như ống tiêu thời xưa.
Tần Mục-Công hỏi :
- Tại sao nhà ngươi thổi ống tiêu, các giống chim lại bay đến ?
Tiêu-Sử thưa
- Ống tiêu thể theo tiếng gáy của chim phượng, mà chim phượng là đầu các giống
chim, bởi vậy các giống chim nghe tiếng phượng đều kéo đến. Ngày xưa vua Thuấn
chế ra khúc nhạc tiêu-thiểu, chim phượng còn bay đến, huống chi các giống chim
khác.
Tấn Mục-Công thấy Tiêu-Sử tướng mạo đoan-trang, nho-tư phong nhã, lại ăn nói
lễ phép, rất hài lòng, nói :
- Ta có một người con gái tên Lộng-Ngọc cũng biết chút ít về âm nhạc, ta muốn
cho nó cùng nhà ngươi kết duyên có đặng chăng ?
Tiêu-Sử sụp lạy từ chối :
- Kẻ ngu-phu nầy vốn quê mùa đâu đánh sánh với công nương, bậc quyền quí.
Tấn Mục-Công nói :
- Con gái ta có lời ước, muốn kết duyên với kẻ có tài về âm nhạc. Nay nhà
ngươi có tài thổi ống tiêu mà cảm hòa được vũ-trụ làm say sưa muôn vật, thế là
duyên trời đã định, nhà ngươi chớ chối từ .
Tiêu-Sử lạy tạ.
Tần Mục-Công liền khiến quan Thái-sử chọn ngày làm lễ thành hôn .
Quan Thái-sử nói :
- Hôm nay là ngày trung thu, trăng vừa tròn bóng, có thể dùng ,ai ngày đoàn
viên được.
Tần Mục-Công dạy Tiêu-Sử tắm gội, thay đổi y-quang rồi đưa đến phượng lầu, để
cùng Công-chúa giao ngẫu.
Ngày hôm sau, Tần Mục-Công phong cho Tiêu-Sử làm quan Trung Ðại-phu.
Tiêu-Sử dẫu làm Trung Ðại-phu nhưng không tham dự đến việc triều chính, ngày
nào cũng vui chơi ở chốn phượng-lầu, lại không ăn cơm, chỉ thỉnh thoảng uống
vài chén rượu mà thôi.
Lộng-Ngọc lại học được phép tiên của Tiêu-Sử, vợ chồng không ăn cơm.
Tiêu-Sử lại dạy Lộng Ngọc thổi tiêu. Vợ chồng ăn ở với nhau ước được nửa năm,
thì một hôm, nhân tiết trăng sáng , vợ chồng đem ống tiêu ra thổi, bỗng có một
con phượng bay đến đậu phía tả và một con rồng bay đến đậu phía hữu.
Tiêu-sử nói với Lộng-Ngọc :
- Ta vốn là người tiên trên trời, Ngọc-Hoàng thấy sử sách chốn trần gian nhiều
chỗ lộn-xộn, nên cho ta xuống đầu thai nơi nhà họ Tiêu nhà Châu để sửa sang
lại. Người nhà Châu thấy ta có công về sử sách nên mới gọi ta là Tiêu-Sử. Ðến
nay đã hơn trăm năm rồi, Ngọc-Hoàng Thượng để cho ta làm chủ nơi núi Hoa-Sơn,
vì cùng nàng trước kia có tiền duyên nên gặp nhau trong khúc nhạc công. Tuy
nhiên dẫu đã nên duyên, chúng ta cũng không nên ở mãi chốn trần gian này. Nay
rồng phượng đến rước chúng ta nên đi ngay.
Lộng-Ngọc toan vào từ biệt cha .
Tiêu-Sử can :
- Không nên ! Đã là thần tiên không nên vì chút tình riêng mà quyến luyến .
Bấy giờ Tiêu-Sử cỡi rồng, Lộng-Ngọc cỡi phụng, cùng bay lên trời .
Ngày hôm sau, bọn tỳ nữ vào báo với Tần Mục-Công.
Tần Mục-Công thở dài, than :
- Thế mới biết việc thần tiên có thật. Giả sử bây giờ rồng phượng đến đón ta,
thì ta cũng chẳng thiết gì ngôi vua.
Tần Mục-Công sai người đến núi Hoa-Sơn để tìm, nhưng không thấy tông tích của
Lộng-Ngọc đâu cả. Vua bèn truyền lập miễu tại chân núi để thờ.
Miễu ấy gọi là Tiên-nữ.
Từ bấy giờ Tần Mục-Công chán việc chiến chinh, giao tất cả quyền chính cho
Mạnh-Minh, rồi tháng năm lo việc tu luyện .
Không bao lâu, Công-Tôn Chi mất, Mạnh-Minh tiến cử ba con của Xa-Thị là
Yêm-Tức, Trọng-Hàng và Kiềm-Hố .
Tần Mục-Công đều cho làm quan Ðại-phu.
Một hôm, Tần Mục-Công ngồi trên phượng-đài, xem trăng nhớ đến Lộng-Ngọc, bỗng
chợp mắt ngũ đi, trông thấy Tiêu-Sử và Lộng-Ngọc đem một con phượng đến đón
Tần Mục-Công dẫn lên chơi nơi cung trăng, khí lạnh buốt vào tận xương.
Khi tỉnh dậy, Tần Mục-Công bị bịnh, chẳng bao lâu tạ thế.
Người trong nước ai cũng cho là Tần Mục-Công đắc đạo thành tiên.
Tần Mục-Công nguyên trước kia có lấy con gái Tần Hiến-Công sinh được Thế-Tử
Oanh. Nay Tần Mục-Công chết, Thế-Tử Oanh lên nối ngôi hiệu là Tần Khang-Công.
Tần Khang-Công an táng Tần Mục-Công theo tục lệ nước quân Tần, cùng một trăm
bảy mươi bảy người đem chôn sống.
Trong số người chôn theo có cả ba con Tử Xa-Thị. Người nước Tần ai cũng mến
tiếc
Nhắc qua việc nước Tấn.
Tấn Tương-Công lập con là Di-Cao lên làm Thế-tử, lại cho thứ-đệ là Công-tử Lạc
qua làm quan nước Trần .
Lúc bấy giờ Triệu-Thôi, Loan-Chi, Tiên Thả-Cư và Tư-Thần đều qua đời hết.
Tấn Tương-Công muốn chỉnh đốn giềng mối trong nước, mới phong cho Hồ Xạ-Cô làm
Trung-quân Nguyên-soái, lấy Triệu-Thuẫn làm phó tướng phong Cư Trịnh-Phủ làm
Thượng quân Nguyên-soái, lấy Tuân Lâm-Phủ làm phó tướng . Phong Tiên-Miệt làm
Hạ quân Nguyên-soái, lấy Tiên-Đô làm Phó-tướng.
Hồ Xạ-Cô trèo lên trướng-đài, tuyên bố hiệu lệnh cho tướng sĩ, có ý kiêu ngạo,
không coi ai ra gì.
Quan Tư-mã Du-Biền thấy thế can :
- Tôi nghe binh tình là trọng, một vị chủ tướng không được tình cảm của ba
quân, chủ tưởng đó không thể thắng nổi giặc . Xưa Thành Đắc-Thần cũng chỉ vì
kiêu ngạo mà thua Tấn, Nguyên soái nên lấy đó làm gương.
(Danh từ Nguyên-soái được dùng đầu tiên ở nước Tấn, đời Tấn Văn-Công. Sách Tả
truyện có nói : Nước Tấn đặt ra tam quân chọn người làm Nguyên soái , "Tấn tác
tam quân mưu Nguyên soái".
Vậy chữ Nguyên soái có nghĩa là người cầm đầu tất cả quân lính.
Về sau đến đời Đường lại đặt rất nhiều chức Nguyên soái : Thiên hạ binh mã
Nguyên soái, Phó Nguyên soái hành quân...
Đời Tống cũng theo phép Đường.
Đến đời Nguyên thì lại đặt mỗi tích mỗi ông Nguyên-soái thành ra chữ
Nguyên-soái mất đi cái ý nghĩa đầu tiên của nó.
Bởi thế sau ngầy người ta mới thêm chữ "Đại" vào để chỉ người tướng thống suất
tất cả quân đội gọi là Đại Nguyên soái.)
Hồ Xạ-Cô nỗi giận mắng :
- Nay ta nắm quyền thống suất ba quân, truyền mệnh lệnh cho các tướng, nếu
không cứng rắn làm sao giữ được binh pháp ! Ngươi là đứa thất phu dám nói càn.
Nói xong, truyền nọc Du-Biền ra đánh một trăm roi .
Các tướng sĩ đều có ý không phục.
Lúc bấy giờ Dương Xử-Phủ sang sứ nước Vệ, lúc trở về hay tin Xạ-cô lên làm
Nguyên-soái, liền tâu với Tấn Tương-Công :
- Con Triệu-Thôi là Triệu Thuẫn đã hiền mà lại đủ tài, xin Chúa-Công hãy chọn
người ấy.
Tấn Tương-Công theo lời liền cho dời Hồ Xạ-Cô đến nói :
- Ngày trước ta cho ngươi làm Nguyên-soái, nhưng nay ta muốn cho Triệu-Thuẫn
lên thay, dùng ngươi làm phó tướng để giúp Triệu-Thuẫn.
Hồ Xạ-Cô không dám nói gì, cúi lạy lui ra.
Triệu-Thuẫn từ khi lãnh chức, chỉnh đốn quân ngũ đâu đó rất uy nghiêm. Ai ai
cũng kính phục.
Có người nói với Dương Xử-Phủ :
- Ngài nói thẳng mà không kiêng nể thật là có lợi cho nước ta. Song ngài không
sợ người ta thù oán sao ?
Dương Xử-Phủ nói :
- Nếu có lợi cho nước, dẫu bị kẻ khác thù oán cũng chẳng sợ gì .
Một hôm, Hồ Xạ-Cô vào yết kiến Tấn Tương-Công, nhân lúc vắng vẻ có một mình,
Hồ Xạ-Cô tâu :
- Chúa-Công nghĩ đến công lao của tiên-nhân tôi mà cho tôi làm Nguyên-soái,
chẳng hay tôi có tội chi Chúa-Công lại đổi ?
Tấn Tương-Công nói :
- Không phải cớ gì khác đâu ! Chỉ vì Dương Xử-Phủ nói nhà ngươi không được
quân binh mến phục . Bởi cớ ấy ta phải thay .
Hồ Xạ-Cô nín lặng lui ra.
Ðến tháng ba năm ấy, Tấn Tương-Công lâm bệnh nặng, liền triệu Hồ Xạ-Cô,
Triệu-Thuẫn và các quan đại thần vào dặn :
- Ta nối theo sự nghiệp tiên-quân đánh Đông dẹp Bắc, chăng rở mệnh trời đã
sinh sống chẳng bao lâu. Thế-Tử Di-Cao còn nhỏ, các ngươi hết lòng giúp đở mà
giữ gìn nghiệp bá .
Các quan triều-thần đều sụp lạy, xin tuân mệnh.
Ngày hôm sau Tấn Tương-Công mất, các quan tuân theo chiếu mệnh tôn Thế-tử
Di-Cao lên nối ngôi.
Triệu-Thuẫn nói :
- Nước Tấn ta hiện nay gặp lúc nhiễu việc, phải đối phó với nước Tần, nước
Ðịch, nếu tôn vua nhỏ ắt hư quốc-sự. Công-tử Ung hiện đang làm quan nước Tần
nên rước về tôn lên ngôi là phải hơn.
Các quan không ai dám nói, chỉ có Hồ Xạ-Cô, đứng ra nói :
- Chi bằng ta lập Công-tử Lạc. Công-tử Lạc hiện làm quan nơi nước Trần , mà
Tấn với Trần là ở chỗ thân tình, chứ không phải như nước Tần là chỗ cừu địch.
Triệu-Thuẫn nói :
- Không được ! Trần là nước nhỏ, mà ở xa, còn Tần là nước lớn lại gần. Nếu
sang nước Tần đón vua thì sẽ bỏ được mọi thù oán cũ với Tần ! Ta nên đón
Công-tử Ung là phải .
Các quan không ai có ý kiến gì.
Triệu-Thuẫn sai Tiên-Miệt làm chánh sứ, Sĩ-Hộ làm phó sứ sang nước Tần báo
tang và đón Công-tử Ung về làm vua .
Lúc Tiên-Miệt sắp lên đường Tuân Lâm-Phủ nói với Tiên-Miệt:
- Phu-nhân và Thế-Tử hiện có mặt tại trào, lại rước người khác về làm vua, sao
tránh khỏi biến loạn. Sao nhà ngươi không cáo bịnh từ chối không đi ?
Tiên-Miệt nói :
- Quyền chính đều nằm trong tay Triệu-Thuẫn. Nay Triệu-Thuẫn đã ra lệnh thì
sao có biến được.
Tuân Lâm-Phủ thở dài nói riêng với người khác :
- Ta vì tình đồng liêu với Tiên-Miệt nên mới có ý kiến. Tiên-Miệt không nghe ,
khò lòng trở về được !
Còn Hồ Xạ-Cô thấy Triệu-Thuẫn không theo ý mình lòng căm tức nói thầm :
- Họ Hồ và họ Triệu xưa nay công trạng không kém gì nhau , nay Triệu Thuẫn ỷ
nắm quyền hành, không kể đến ai, lại quyết làm cho họ Triệu không đứng vững.
Hồ Xạ-Cô mật sai người sang nước Trần đón Công-tử Lạc về để tranh cướp ngôi
vua.
Có người báo với Triệu-Thuẫn hay. Triệu-Thuẫn sai Công Tôn Chư-Cửu đem một
trăm giáp sĩ phục ở giữa đường, đón Công-tử Lạc giết chết.
Hồ Xạ-Cô càng căm tức nói :
- Bởi Dương Xử-Phủ tiến cử nên ngày nay Triệu-Thuẫn mới giành được quyền hành.
Ta thừa lúc Dương Xử-Phủ ra ngoài cõi tiếp sứ các nước đến vấn tang, mà giết
Dương Xử-Phủ đi .
Nói xong, đem việc ấy bàn với em là Hồ Cúc-Cư.
Hồ Cúc-Cư nói :
- Việc ấy tôi có thể làm được.
Hồ Cúc-Cư liền cùng với một tên gia nhân cải dạng làm kẻ trộm tìm đến nơi
Dương Xử-Phủ cư ngụ, trèo vào tường, giữa lúc Dương Xử-Phủ đang ngồi bên đèn
xem sách.
Hồ Cúc-Cư xông vào đánh trúng vai, Dương Xử-Phủ bõ chạy, Hồ Cúc-Cư đuổi theo
giết chết.
Người nhà Dương xử-Phủ nhận ra Hồ Cúc-Cư, đến báo với Triệu-Thuẫn.
Triệu-Thuẫn không tin mắng :
- Dương Xử-Phủ bị kẻ trộm vào nhà giết, sao lại đổ tội cho Hồ Cúc-Cư.
Nói xong truyền khâm liệm Dương Xư-Phủ đem mai táng.
Đến tháng tám năm ấy , làm lễ an táng Tấn Tương-Công ở Khúc-Ốc.
Bà phu nhân Mục Doanh cùng Thế-tử Di Cao đến nơi để đưa đám .
Mục-Doanh hỏi Triệu-Thuẫn :
- Thế-Tử có tội gì mà ngài lại phế Thế-tử, đi đón vua khác ?
Triệu-Thuẫn đáp :
- Đó là việc quan-trọng của nước nhà đâu phải vì lợi riêng cho tôi ?
Khi làm lễ an táng Tấn Tương-Công xong, đưa linh cữu vào Thái-miếu, các quan
ứng hầu đủ mặt.
Triệu-Thuẫn đứng ra nói :
- Tiên quân ta khi xưa vì biết giữ pháp luật mà làm nên nghiệp bá. Nay trong
nhà Thái-miếu có kẻ gian thần không thể bỏ qua, không trừng trị.
Nói xong hô võ sĩ bắt Hồ Cúc-Cư trói lại giao cho Tư-khấu kết án tử hình.
Hồ Cúc-Cư hoảng hốt nói :
- Tôi có tội chi mà phải thọ hình.
Triệu-Thuẫn chỉ vào mặt nói :
- Ngươi dám giả làm kẻ trộm vào giết quan Thái-phó Dương Xử-Phủ sao lại bảo là
không tội ?
Hồ Xạ-Cô sợ Triệu-Thuẫn biết được âm mưu của mình, nên nội đêm hôm ấy lén trốn
sang nước Ðịch. Vào đầu vua nước Ðịch là Bạch-Đôn.
Lúc bấy giờ ở nước Ðịch có một người mình cao một trượng năm thước, sức mạnh
có thể mang nỗi nghìn cân, vì vậy, dân chúng gọi tên là Trường-Địch.
Trường-Ðịch đầu cứng như đồng, trán cứng như sắt dẫu lấy gạch đá đập vào cũng
không hề chi !
Vua nước Ðịch dùng Trường-Địch làm tướng, sai đi đánh nước Lỗ.
Lỗ Văn-Công sai Thúc-Tôn Ðắc-Thần đem quân ra đối địch.
Thúc-Tôn Ðắc-Thần biết Trường-Ðịch là kẻ vũ dũng, không dám đánh, lập kế đào
hầm, đợi cho tuyết xuống, mặt hầm phẳng như băng, rồi mới đem quân ra đánh.
Nhưng đánh được một lúc, giả thua bõ chạy, Trường-Địch rượt theo, gặp lúc
tuyết tan bất ngờ sụp xuống hầm, bị Thúc-Tôn Ðắc-Thần bắt giết, rồi bõ xác
trên một cỗ xe lớn kéo đi. Ai trông thấy cũng phải kinh sợ.
Từ bấy giờ Lỗ, Tề, Vệ họp sức đánh tan nước Ðịch.
Bạch-Đôn thua trận buồn lòng chán nản, rồi chết.
Hồ Xạ-Cô bơ vơ không biết nương tựa vào đâu mới chạy sang nước Lỗ, nhờ quan
Ðại-phu nước Lỗ là Phong-Thư thu dụng.
Triệu-Thuẫn hay tin Hồ Xạ-Cô bỏ trốn, nói :
- Hồ Xạ-Cô có công với Tiên-quân ta nhiều lắm. Ta giết Hồ Cúc-Cư là để cho Hồ
Xạ-Cô an lòng, nào ngờ Hồ Xạ-Cô lại bỏ trốn. Nay ta nỡ lòng nào để Hồ Xạ-Cô bơ
vơ một mình nơi đất khách.
Nói rồi sai Du-Biền đưa vợ con Hồ Xạ-Cô qua nước Lỗ để cho gia đình xum họp.
Du-Biền sắp sửa khởi hành, bọn gia nhân thưa :
- Ngày trước Hồ Xạ-Cô làm Nguyên soái, đánh ngài một trăm roi, nhục ấy chưa
phai. Nay ngài lãnh nhiệm vụ đưa vợ con Hồ Xạ-Cô sang nước Lỗ, đó là cơ hội để
trả thù. Xin ngài đem giết hết đi.
Du-Biền lắc đầu nói :
- Không nên ! Nguyên-soái đã giao cho ta nhiệm-vụ ấy tức là đã tín nhiệm lấy
ta. Nếu làm trái là bất trung. Hơn nữa, lúc người ta hoạn nạn mà mình trả thù
là bất nhân . Ta quyết không làm điều ấy.
Nói xong, mời vợ con Hồ Xạ-Cô lên xe đưa đi. Còn bao nhiêu vàng bạc, tài sản
của Hồ Xạ-Cô đều ghi vào sỗ để đem sang nước Lỗ giao trả, không một món nào
thất thoát.
Hồ Xạ-Cô thấy vậy, thở dài than :
- Du-Biền là người hiền mà ta không biết ! Quả ta là kẻ mê muội nay phải vong
quốc cũng đáng lắm !
Cử chỉ Du-Biền chẳng những làm cho Hồ Xạ-Cô kính trọng, mà cả đến Triệu-Thuẫn
cũng khâm phục. Vì vậy Triệu-Thuẫn định ý cho Du-Biền lên làm quan to.
Giữa lúc đó, Tiên-Miệt và Sĩ-Hội đã sang đến nước Tần xin đón Công-tử Ung về
làm vua.
Tần Khang-Công mừng rỡ nói :
- Tiên-quân ta trước kia đã hai lần lập vua nước Tấn, nay đến ta lại lập
Công-tử Ung nữa. Như vậy các vua nước Tấn đều do nước Tần lập lên cả.
Tần Khang-Công liền sai Kiến-Bính đem quân đưa Công-tử Ung về nước.
Tuy nhiên, tại triều nước Tấn ngày nào bà Doanh-Thị (vợ Tấn Tương-Công) cũng
bồng Thế-Tử Di-Cao ra ngồi khóc trước mặt các quan, và nói :
- Con trưởng của Tiên-quân đây, làm sao các ngài lại bõ đi !
Rồi đến lúc tan triều bà lại bồng Thế-Tử Di-Cao đến nhà Triệu-Thuẫn nói :
- Khi Tiên-quân mất có di mệnh, đem đứa bé nầy uỷ-thác cho ngài, lời ấy còn
vẳng vẳng bên tai , sao ngài lại định lập người khác mà bõ đứa bé nầy. Thế thì
mẹ con tôi đành một thác cho xong.
Nói xong vật mình xuống đất than khóc.
Người trong nước nghe việc ấy ai cũng cảm động cho Triệu-Thuẫn là vô đạo. Vì
vậy, Triệu-Thuẫn có ý lo lắng lắm.
Một hôm Triệu-Thuẫn hỏi Khước-Khuyết :
- Tiên-Miệt đã sai qua nước Tần đón Công-tử Ung rồi, lẽ nào lập Thế-tử Di-Cao
được ?
Khước-Khuyết nói :
- Nếu nay bỏ Thế-Tử Di-Cao lớn lên ắt sanh biến, chi bằng ta kịp cho người
sang nước Tần gọi Tiên-Miệt về là hơn.
Triêu-Thuẫn nói :
- Nếu vậy thì ta cứ lập vua trước, rồi sẽ sai sứ sang gọi Tiên-Miệt về mới
đúng lễ.
Hôm sau, Triệu-Thuẫn họp các quan triều, lập Thế-Tử Di-Cao lên ngôi, tức là
Tấn Linh-Công.
Lúc bấy giờ Tấn Linh-Công mới có bảy tuổi.
Các quan lạy mừng xong, lại có tin đại binh nước Tần đã đưa Công-tử Ung về đến
sông Hoàng-Hà rồi.
Các quan Ðại-phu đều lo sợ, nói :
- Nay ta thất tín với nước Tần, biết làm sao ?
Triệu-Thuẫn nói :
- Nếu ta lập Công-tử Ung thì Tần là nước thân, còn nếu lập Thế-Tử Di-Cao thì
Tần là nước thù-địch. Vậy thì ta cứ đem quân ra đánh chứ còn gì nữa.
Nói xong, khiến Nguyên-soái đạo Thượng-quân là Cư Trịnh-Phủ ở nhà để bảo vệ
Tấn Linh-Công, còn mình thì đem quân ra đối địch với quân Tần.
Quân Tần kéo đến đất Linh-Hồi nghe tin phía trước có quân Tấn kéo đến, tưởng
là quân Tấn đến đón rước, nên không phòng bị gì cả.
Tiên-Miệt đi tuốt đến chỗ quân Tấn đóng, vào yết kiến Triệu-Thuẫn.
Triệu-Thuẫn cho biết là đã lập Thế-Tử Di-Cao lên ngôi rồi.
Tiên-Miệt trố mắt hỏi :
- Sao lại bảo đi đón Công-tử Ung, rồi lại lập Thế-tử Di-Cao ?
Nói xong bỏ đứng dậy bước ra ngoài. Vừa ra khỏi dinh, gặp Tuân Lâm-Phủ,
Tiên-Miệt nói :
- Tiếc rằng trước kia tôi không nghe theo lời ngài.
Tuân Lâm-Phủ nói :
- Dầu sao ngài cũng đừng nên bỏ nước Tấn.
- Tôi đã phụng mệnh sang Tần đón Công-tử Ung thì Công-tử Ung là Chúa của tôi
rồi. Nay còn nói gì được nữa.
Tiên-Miệt liền bỏ Tấn sang Tần.
Triệu-Thuẫn thấy Tiên-Miệt đi rồi, bàn với các tướng :
- Tiên-Miệt bỏ Tấn sang Tần thì ngày mai ắt quân Tần sang đánh ta, chi bằng
đêm hôm nay nhơn lúc sơ ý, ta đem binh sang cướp trại Tần mới xong.
Các tướng đều tuân lệnh, âm thầm kéo quân ra đi.
Quân Tần đang ngủ, hoảng hốt vùng dậy bõ chạy tán loạn.
Quân Tấn thừa thế đuổi theo, đuổi mãi đến tận biên giới.
Kiến-Bính liều chết mới chạy thoát được còn Công-tử Ung thì chết trong đám
loạn quân.
Tiên-Miệt than :
- Triệu-Thuẫn đã bội ước ta nhưng ta không bội ước với Tần.
Sĩ Hội nói :
- Ta cùng Tiên-Miệt đi sứ, nay Tiên-Miệt đã bỏ Tấn sang Tần ta còn mặt mũi nào
trở về Tấn làm chi.
Nói xong, cùng Tiên-Miệt qua Tần, vào yết kiến Tần Khang-Công.
Tần Khang-Công đều cho làm quan Ðại-phu.
Tuân Lâm-Phủ hay tin nói với Triệu-Thuẫn :
- Ngày xưa Hồ Xạ-Cô trốn sang nước Ðịch, ngài nghĩ tình đồng liêu sai người
đưa vợ con đi theo, nay Tiên-Miệt và Sĩ-Hồ cùng tôi cũng là đồng liêu với
nhau, tôi xin bắt chước lối cũ.
Triệu-Thuẫn nói :
- Nhà ngươi trọng nghĩa như vậy chính hợp ý ta.
Triệu-Thuẫn sai người đem gia-quyến và tài-sản của Tiên-Miệt và Sĩ-Hội đưa
sang nước Tần.
Việc đánh nhau mới rồi các tướng nước Tấn đều có công thắng trận cả, riêng có
Khoái-Đắc, bộ tướng của Tiên-Đắc (Trung-quân ở Nguyên-soái) cứ thẳng đường
đuổi quân Tần, nên bị quân Tần đánh bại.
Tiên-Khắc chiếu theo quân luật toan đem chém. Các tướng can lắm, Khoái-Đắc mới
được tha.
Từ đấy, Khoái-Đắc đem lòng thán oán.
Còn Cư Trịnh-Phủ, Sĩ-Cốc, Lương Ích-Nhĩ vốn chơi thân với nhau. Từ khi
Triệu-Thuẫn lên làm Nguyên-soái, quyền hành của ba người này không còn nữa,
nên mới bàn nhau, nhơn lúc Triệu-Thuẫn đem binh đánh Tần, âm mưu nỗi loạn, phế
bõ Tấn Linh-Công, rước Công-tử Ung về để khôi phục lại quyền thế.
Hết Hồi 47 - Ðông Châu liệt Quốc
Xem Hồi 48