Hồi 49  -  Ðông Châu Liệt Quốc

Công-tử Bảo phóng tiền mua nước
Tề Ý-Công tham sắc hại thân

Sĩ-Hội cùng với Thọ-Dư qua sông Hoàng Hà. Ði chưa được bao lâu thấy một viên tướng trẽ tuổi đem một toán quân ra đón.

Viên tướng ấy ngồi trên xe cúi đầu chào Sĩ-Hội.

Sĩ-Hội xem lại thì đó là Triệu-Sóc (con của Triệu-Thuẫn).

Sĩ-Hội hỏi Tiêu-Sóc
- Nhà ngươi đem quân đến đây là có ý gì ?

Triệu-Sóc nói :
- Tôi phụng mệnh cha tôi đem quân đi đón ngài về. Đại quân Tấn sắp đến sau.

Nói vừa dứt lời bỗng nghe một tiếng súng nổ, quân Tấn kéo đến ào ạt như nước, ủng hộ Thọ-Dư và Sĩ-Hội về triều.

Quân thám thính nước Tần hay được Sĩ-Hội bỏ trốn về Tấn, vội vã trở về báo với Tần Khang-Công.

Tần Khang-Công nổi giận toan đem binh sang sông để đánh Tấn, nhưng lại nghe bên kia sông đại binh nước Tấn kéo đến rất đông.

Tây Khất-Thuật nói với Tần Khang-Công :
- Ðại binh Tấn đã chuẩn bị đến đón Sĩ-Hội, quân ta khó qua sông được. Xin Chúa-công chờ dịp khác là hơn.

Tần Khang-Công nghe theo lời, rút binh về.

Sĩ-Hội đã trốn sang Tần hơn ba năm, nay được về nước Tấn, lòng đấy cảm khoái, vội vào yết kiến Tấn Linh-Công.

Tấn Linh-Công phong cho Sĩ-Hội làm quan Ðại-phu.

Triệu-Thuẫn lại tâu với Tấn Linh-Công thưởng cho Thọ-Dư mười cỗ xe, để đền công khó nhọc đi triệu Sĩ-Hội.

Tần Khang-Công không muốn trái lời thề, sai người đem vợ con Sĩ-Hội qua nước Tấn giao trả cho Sĩ-Hội .

Sĩ-Hội cảm nghĩa Tần Khang-Công cũng viết thư sang cảm ơn và khuyên Tần Khang-Công nên nghỉ việc đao binh.

Từ bấy giờ Tần, Tần hai nước nghỉ việc tranh chiến. Khoảng thời gian thanh bình ấy kéo dài được ba mươi năm, và có những thay đổi như sau : Châu Khoảng-Vương lên ngôi được sáu năm thì thăng hà. Thái-tử Ban lên kế vị, xưng hiệu là Châu Khang-Vương.
Sở Mục-Vương mất, Thế-Tử Lữ lên ngôi, tức là Sở Trang-Vương .

Triệu-Thuẫn thấy Sở Mục-Vương mới mất, muốn nhân cơ-hội ấy khôi phục lại công nghiệp bá chủ của nước Tấn, liền phát hịch hội chư hầu nơi đất Tân-Thành.

Lúc bấy giờ, các nước chư hầu :

 

Tống Chiêu-Công (Chư Cửu),

Lỗ Văn-Công (Hưng),

Trần Linh-Công (Bình Quốc),

Vệ Thành-Công (Trịnh),

Trịnh Mục-Công (Lan) 

Hứa Chiêu-Công (Tích-Ngã)

 

đều đến dự hội.

Triệu-Thuẫn đem lời phủ dụ, các nước đều thần phục Tấn, duy có nước Sái vẫn theo Sở như cũ, không đến dự hội.

Triệu-Thuẫn sai Khước-Khuyết đem binh sang đánh Sái.

Vua Sái phải viết thư cầu hòa, Khước-Khuyết mới chịu lui binh về.

Tề Chiêu-Công (Phan) vẫn có ý định đến dự hội, nhưng bị bịnh, chưa kịp đến đã chết. Con là Thế-Tử Xá lên nối ngôi.

Mẹ Thế-Tử Xá là con gái của Lỗ, tên Thúc-Cơ, tức là nàng Chiêu-Cơ. Nàng Chiêu-Cơ tuy là chánh-thiếp của Tề Chiêu-Công song không được sủng-ái, còn Thế-Tử Xá, tuy là Thế-Tử nhưng tài học tầm thường, bởi vậy người trong nước không có lòng kính-trọng.

Công-tử Thương-Nhân là con nàng Mật-Cơ (con của Tề Hoàn-Công) trước kia đã có ý tranh ngôi với Tề Chiêu-Công, nhưng vì Tề Chiêu-Công tiếp đãi rất hậu, thành thử không nỡ hành động.
Mấy năm sau Tề Chiêu-Công lại triệu Công-tử Nguyên (con Tề Hoàn-Công) ở nước Vệ về, giao việc quốc chánh.

Công-tử Thương-Nhân hay Công-tử Nguyên là người hiền, nên có ý ghen ghét, mới tính mua chuộc lòng dân bằng cách đem của tiền mình phân phát cho kẻ nghèo, vì vậy rất nhiều người mến.

Ðến lúc Thế-Tử Xá lên ngôi gặp lúc sao chổi xuất hiện, đỏ chói nền trời.

Công-tử Thương-Nhân mới tìm thầy bói hỏi xem điềm gì .

Người thấy bói nói :
- Ðó là điềm các nước Tống, Tề và Tần có loạn đó.

Công-tử Thương-Nhân nói :
- Nước Tề mà có loạn ắt phải do tay ta.

Nói xong mật sai võ-sĩ vào đâm chết Thế-Tử Xá.

Tuy nhiên Công-Tử Thương-Nhân còn e sợ Công-tử Nguyên nên chưa dám cướp ngôi, bèn đến giả cách thăm Công-tử Nguyên hỏi dò ý kiến :
- Thế-tử Xá không đáng làm vua. Tôi làm việc nầy là vì anh đó.

Công-tử Nguyên giật mình nói :
- Ta vẫn biết hiền đệ muốn làm vua đã lâu, nay hiền đệ lại hành động như vậy rồi đổ lỗi cho ta sao ? Ta nhờ hiền-đệ thì được, chứ hiền-đệ đừng mong cậy ở ta. Ta mong rằng hiền-đệ làm vua, và bao dung cho ta được suốt đời làm một người dân, sống trên đất Tề nầy là đủ.

Công-tử Thương-Nhân lên nối ngôi, xưng hiệu là Tề Ý-Công.

Công-tử Nguyên ghét Tề Ý-Công làm những việc tàn nhẫn nên cáo bịnh về nhà đóng cửa mưu cuộc sống an cư.

Nàng Chiêu-Cơ thương con chết oan, ngày đêm kêu khóc.

Tề Ý-Công thấy vậy bắt giam vào một nơi, lại cho ăn uống rất cam khổ.

Nàng Chiêu-Cơ đem tiền lo lót với cung nhân mật tin sang nói rõ tình trạng ấy với Lỗ Văn-Công.

Lỗ Văn-Công sợ thế nước Tề mạnh, không dám dùng quân lực trách phạt. Mới sai người đến cầu cứu với nhà Châu, nhờ uy Châu Khang-Vương can thiệp với vua Tề xin tha cho nàng Chiêu-Cơ.

Châu Khang-Vương liền sai Ðan-Bá sang nước Tề giàn xếp việc ấy.

Ðan-Bá đến nói với Tề Ý-Công :
- Hiền-hầu đã giết con thì thôi, còn giam mẹ làm gì ! Sao không tha cho Chiêu-Cơ về Lỗ để tỏ lòng quảng đại của nước Tề ?

Tề Ý-Công vẫn muốn giấu việc giết Thế-Tử Xá, chẳng ngờ Ðan-Bá biết, nên Tề Ý-Công thẹn đỏ mặt, ngồi yên không nói gì cả.

Ðan-Bá lui về nhà công quán.

Tề Ý-Công truyền đem nàng Chiêu-Cơ sang cung khác, rồi sai người nói với Ðan-Bá :
- Chúa-Công tôi đối với quốc-mẫu (nàng Chiêu-Cơ) vẫn giữ lễ . Nay có lệnh Thiên-tử, Chúa-công tôi thế nào cũng phải vâng lời. Vậy xin Vương-sứ vào yết-kiến quốc-mẫu để tỏ lòng chiếu cố của Thiên-tử.

Ðan-Bá tưởng thực, vội vào cung yết-kiến Chiêu-Cơ.

Chiêu-Cơ ứa nước mắt kể lại nỗi niềm.

Ðan-Bá cũng đau lòng xót dạ, nhưng chưa kịp trả lời thì Tề Ý-Công đã hiện đến chỉ vào mặt Ðan-Bá hét :
- Sao ngươi dám tự tiện vào cung tư thông với quốc-mẫu ! Thật quả là đứa lăng loàn. Ta quyết đem việc nầy tâu lại với Thiên-tử.

Nói xong, truyền đem Ðan-Bá và Chiêu-Cơ mỗi người giam một nơi.

Lại căm tức Lỗ Trang-Công dám mượn uy lệnh Thiên-tử áp chế nước mình, mới hưng binh đánh Lỗ.

Lỗ Văn-Công sai quan Thượng-khanh là Quí-Tôn Hàng-Phủ (con Công-tử Hữu) sang cáo cấp với nước Tấn.

Triệu-Thuẫn vâng lệnh Tấn Linh-Công hội các chư hầu : Tống, Vệ, Sái, Trần, Trịnh, Tào và Hứa ở đất Hồ-Bia, để thương nghị việc đánh Tề .

Tề Ý-Công có ý sợ, đem lễ vật đút lót với nước Tống rồi tha Đan-Bá về nhà Châu, lại cho nàng Chiêu-Cơ về nước Lỗ.

Các nước chư-hầu thấy vậy đều rút quân về nước.

Lỗ Văn-Công nghe tin nước Tấn không sang đánh Tề, cũng sai Công-tử Toại đem lễ vật sang Tề giao hảo.


Ðây nói qua việc nước Tống.
Tống Tương-Công phu-nhân là nàng Vương-Cơ vốn là chị Châu Tương-Vương, mẹ của Tống Thành-Công (Vương-Thân) và là bà nội của Tống Chiêu-Công (Chữ-Cửu), tuy tuổi đã gìa mà còn nặng tình dục lắm.

Tống Chiêu-Công có người thứ-đệ là Công-tử Bảo, tuy đàn ông, nhưng mặt hoa mày liễu, không khác gì con gái, nên bà Vương-Cơ đem lòng dan díu.

Một hôm, Vương-Cơ mời Công-tử Bảo vào cung, phục rượu say rồi ép đến cuộc gió mưa.

Công-tử Bảo cố sức chống cự mới thoát ra khỏi.
Tuy vậy, bà Vương-Cơ vẫn chưa dứt được tình, muốn phế bỏ Tống Chiêu-Công, lập Công-tử Bảo lên thay mà chưa có dịp .

Tống Chiêu-Công từ lúc làm Thế-tử có chơi thân với Công-tử Ẩn, Công-Tôn Khỗng-Thúc và Công-Tôn Chung-Ly.
Ðến khi lên ngôi, Tống Chiêu-Công cùng với ba người ấy đi săn bắn mãi, không kể gì đến việc triều chính.

Quan Tư-mã Lạc biết nước Tống sắp loạn, từ quan, nhường chức cho Công-tử Ẩn, còn quan Tư-thành là Công-Tôn Thọ, cũng nhường chức cho Công-Tôn Chung-Ly.

Tống Chiêu-Công lại dùng con Công-Tôn Thọ là Ðãng Ý-Chư làm chức Tư-thành.

Cách đó chẳng bao lâu, bà Vương-Cơ lập mưu bắt Công-tử Ẩn và Công-Tôn Chung-Ly giết đi, để trừ lần vây cánh của Tống Chiêu-Công.

Về phần Công-tử Bảo nghe tin Công-tử Thương-Nhân (tức Tề Ý-Công) ở nước Tề phóng tài hóa để thu nhân-tâm, mà cướp được ngôi vua, nên cũng bắt chước đem hết gia tài mình, phân phát cho những kẻ nghèo khổ.

Năm Tống Chiêu-Công thứ bảy, trong nước mất mùa, Công-tử Bảo đem thóc gạo phát cho dân đói, lại kính kẻ già, tôn người hiền, phàm những người nào từ bảy mươi tuổi trở lên, cứ mỗi tháng đều được Công-tử Bảo biếu thóc lúa hoặc các thứ thực phẩm. Còn những người nào có nghề khéo tài giỏi, đều được thu dùng, cấp lương .

Các quan Ðại-phu thì tháng nào Công-tử Bảo cũng có đem đồ biếu.
Trong họ tôn thất bất cứ thân sơ, hễ có việc gì cũng được Công-tử Bảo đem tiền bạc đến giúp.

Ðến năm thứ tám, đời Tống Chiêu-Công, nước Tống lại mất mùa to. Công-tử Bảo hết cả tiền của, bà Vương-Cơ lại đem của riêng trong cung mình ra cho Công-tử Bảo để tiếp tục việc làm nghĩa. Bởi vậy người trong nước đều cho Công-tư Bảo là nhân đức, muốn Công-tử
Bảo làm vua.

Công-tử Bảo biết người trong nước đã mến, mới bàn mưu với Vương-Cơ để giết Tống-Chiêu-Công.

Vương-Cơ nói :
- Nghe nói Tống Chiêu-Công sắp sửa đi săn ở đất Mạnh-Chư. Hôm ấy ta dặn Công-tử Tu (em cũng mẹ với Công-tử Bảo) đóng cửa thành lại, còn nhà ngươi đem người đi giết Tống Chiêu-Công đi là xong.

Công-tử Bảo nghe lời làm theo kế ấy.

Nhân quan Tư-thành là Ðãng Ý-Chư vốn là người hiền, xưa nay Công-tử Bảo rất kính trọng, nghe biết mưu cửa Công-tử Bảo, nên bàn với Tống Chiêu-Công :
- Chúa-Công chớ nên đi săn, vì ra đi chuyến nầy khó mà trở về được.

Tống Chiêu-Công nói :
- Nếu có kẻ định nỗi loạn, dẫu ta có ở nhà cũng không tránh khỏi.

Nói xong sai quan Hữu-sư Hoa-Nguyên và quan Tả-sư Công-Tôn Hữu ở nhà giử nước, còn mình thì chuyễn vận các bảo ngọc trong kho, thẳng đường tiến ra đất Mạnh-Chư.

Tống Chiêu-Công mới ra khỏi cửa thành, bà Vương-Cơ sai người triệu Hoa-Nguyên và Công-Tôn Hữu vào nhốt trong cung, rồi bảo Công-tử Tu đóng chặt cửa thành lại.

Công-tử Bảo sai quan Tư-mã Hoa-Ngẫu tuyên cáo với quân sĩ :
- Tạ phụng-mệnh Vương-Cơ truất phế hôn-quân mà lập Công-tử Bảo lên ngôi, các ngươi nghĩ sao ?

Quân sĩ đều reo hò hoan hĩ. Cả đến nhân dân trong thành ai nấy cũng bằng lòng.

Hoa-Ngẫu đem quân đuổi theo Tống Chiêu-Công.

Tống Chiêu-Công đi dọc đường nghe trong thành có biến muốn đem binh trở lại .

Ðãng Ý-Chư khuyên :
- Việc đã gấp rồi, Chúa-công nên chạy sang nước khác tỵ nạn là hơn

Tống Chiêu-Công nói :
- Trên từ tổ mẫu (bà Vương-Cơ) dưới đến nhân dân, ai cũng đều ghét ta huống hồ các nước chư hầu, còn nước nào chịu giúp ta nữa. Ta quyết không đi nước khác, thà chết tại nước nhà còn hơn.

Nói xong, truyền đóng quân lại nấu cơm ăn, để cho các người theo hầu được no cả.

Ăn xong, Tống Chiêu-Công bảo các người theo hầu :
- Việc nầy lỗi tại ta, các ngươi chớ có dự đến ! Các ngươi theo hầu ta trong mấy năm, ta chưa có gì đền đáp, nay sẵn có các đồ bảo ngọc ở đây, ta chia tặng cho các ngươi. Các ngươi nên trốn đi kẻo chết oan.

Các người theo hầu ứa lệ, nói :
- Xin Chúa-công cứ đi, nếu có quân đuổi theo chúng tôi nguyện liều chết.

Tống Chiêu-Công nói :
- Chết như thế không ích gì, các ngươi chớ nên quyến luyến ta nữa.

Ðược một lúc, quân Hoa-Ngẫu kéo đến, vây kín Tống Chiêu-Công và tuyên bố với quân sĩ :
- Ta phụng mệnh Vương-Cơ, chỉ đến đây giết một mình hôn quân mà thôi, còn kẻ theo hầu không sao cả.

Tống Chiêu-Công vội vàng xua đuổi những người theo hầu.

Các người theo hầu đều chạy hết, chỉ còn có Ðãng Ý-Chư nhất quyết thông đi, vẫn chong gươm đứng bên cạnh.

Hoa-Ngẫu nói :
- Nay hôn quân sắp chết nhà ngươi còn luyến tiếc làm chi, hãy theo ta về triều ắt không mất phần phú quý.

Ðãng Ý-Chư nói :
- Làm tôi lúc hoạn nạn lại bỏ vua thì sống làm gì cho nhục, thà chết đi còn hơn.

Nói xong, cầm gươm bảo vệ Tống Chiêu-Công đến hơi thở cuối cùng.

Hoa-Ngẫu giết được Tống Chiêu-Công rồi trở về báo với Vương-Cơ.

Vương-Cơ liền hội các quan lập Công-tử Bảo lên ngôi tức là Tống Văn-Công.

Hoa-Ngẫu vào triều hạ xong trở về nhà bị đau bụng chết ngay lập tức.

Người trong nước cho là vong hồn Ðãng Ý-Chư báo oán.

Tống Văn-Công khen Ðãng Ý-Chư là kẻ trung nghĩa, nên dùng em Ðãng Ý-Chư là Ðãng-Hủy làm quan Tư-mã, thay cho Hoa-Ngẫu, và phong em ruột mình là Công-tử Tu thay cho Ðãng Ý-Chư làm chức Tư-thành.

Triệu-Thuẫn hay tin nước Tống có loạn giết vua, liền sai Tuân Lâm-Phủ làm đại tướng, hội quân nước Vệ, Trần và Trịnh sang đánh Tống.

Tống Văn-Công không dám chống cự, sai quan Hữu-sư Hoa Nguyên đem vàng bạc đút lót và kể rõ tình trạng trong nước, xin Tuân Lâm-Phủ cho giảng hòa.

Tuân Lâm-Phủ nhận lễ, và toan lui binh.

Trịnh Mục-Công nói :
- Chúng tôi dựng cờ dóng trống kéo quân sang đây là muốn đánh Tống, trừ loạn tặc, tướng quân lại cho Tống giảng hòa thì nay những kẻ loạn tặc đâu còn kính nễ.

Tuân Lâm-Phủ nói :
- Tề và Tống có khác gì nhau. Ta đã khoan dung cho Tề lẽ nào lại nghiêm khắc với Tống ! Vả người nước Tống ai cũng muốn Công-tử Bảo làm vua, há ta lại trái ý làm chi !

Nói xong, chấp thuận lời cầu hòa của nước Tống.

Trịnh Mục-Công giận bỏ ra ngoài nói :
- Nước Tấn không kể gì đến công nghĩa, tham lam lễ vật thì làm sao giữ được quyền bá chủ. Nay vua Sở mới lập, chẳng bao lâu ắt gây việc binh đao, chi bằng ta bỏ Tấn theo Sở để bảo vệ nước nhà là hơn.

Trịnh Mục-Công liền sai sứ sang giao thông với Sở.



Nhắc qua việc nước Tề.
Từ khi Tề Ý-Công (Thương-Nhân) lên ngôi làm lắm điều ngang ngược, hay kiếm chuyện cũ để trả thù. Lúc Tề Hoàn-Công còn sống, Thương-Nhân (tức Tề Ý-Công) có một lần tranh giành ruộng đất với quan Ðại-phu Bính-Nguyên. Tề Hoàn-Công giao cho Quản-Trọng xét xử việc ấy. Quản-Trọng thấy Thương Nhân thất lý, nên cho Bính-Nguyên được phần. Thương-Nhân căm tức lắm. Ðến lúc Thương-Nhân giết Công-tử Xá lên làm vua, liền chiếm lại tất cả đất đai của Bính-Nguyên. Lại cho Quản-Trọng là bè đảng với Bính-Nguyên nên tước bỏ phong-ấp của họ Quản. Con cha họ Quản sợ tội, bỏ trốn sang nước Sở làm quan.

Một hôm Tề Ý-Công đi săn, qua ngôi mộ của Bính-Nguyên nghĩ đến chuyện tranh chấp ngày xưa lòng căm tức, sai quân đào mả Bính-Nguyên, lấy xác đem chặt chân.

Con Bính-Nguyên là Bính-Súc lúc đó theo hầu bên cạnh.
Tề Ý-Công hỏi Bính-Súc :
- Cứ như tội thân phụ nhà ngươi phỏng có đáng chặt chân chăng ?

Bính-Súc đáp :
- Cha tôi lúc sống được khỏi tội chết cũng đã may lắm rồi, nay Chúa-công xử sự như vậy cũng chẳng có chỉ là nặng.

Tề Ý-Công khen :
- Thế mới là kẻ hiểu được lầm lỗi của người cha.

Nói xong Tề Ý-Công đem ruộng đất lấy của Bính-Nguyên khi trước trả lại cho Bính-Súc.

Bính-Súc xin phép được mai táng thi-thể của cha, Tề Ý-Công thuận cho.

Sau đó, Tề Ý-Công lại bỏ tiền mua những gái đẹp trong nước. Ngày nào cũng vui chơi mê mẫn, không kể đến dư luận xấu xa.

Tề Ý-Công lại nghe nói quan Ðại-phu Diêm-Chức có vợ đẹp, nhân dịp Tết nguyên-đán, ra lệnh cho các quan Ðại-phu phải đưa vợ vào cung ra mắt Chánh hậu.

Vợ Diêm-Chức cũng như vợ các quan Ðại-phu khác, vâng lệnh vào triều.

Tề Ý-Công trông thấy đẹp, có ý bằng lòng, giữ lại không cho về

Lại sai người nói với Diêm-Chức :
- Chánh-hậu muốn kết bạn với vợ ngươi, vậy ngươi nên tìm vợ khác .

Diêm-Chức giận lắm nhưng không dám nói ra.

Lúc bấy giờ đang mùa hạ, trời nóng bức. Nơi cửa Nam thành có cái ao gọi là Thân-Trì. Ở đó có nhiều khóm trúc rườm rà, tỏa tàng mát mẻ.

Tề Ý-Công định ra Thân-Trì nghỉ mát, mới cho Bính-Súc và Diêm-Chức theo hầu.

Quan Hữu-sư Hoa-nguyên thấy vậy nói riêng với Tề Ý-Công :
- Chúa-công chặt chân cha Bính-Súc, lấy vợ Diêm-Chức. Hai người ấy chắc gì không oán hận, xin Chúa-công chọn người khác theo hầu tiện hơn.

Tề Ý-Công nói :
- Hai người ấy chưa bao giờ tỏ ý giận hờn, nhà ngươi chớ nghi ngại.

Nói xong liền ngự xe ra chơi nơi Thân-Trì. Và truyền nội thị đem rượu đến ngồi dưới bóng mát uống.

Trời nóng, rượu nồng uống được vài tuần, Tề Ý-Công thấy trong người nóng bức, liền truyền nội thị lấy cái giường gấm kê trong bụi trúc để nằm cho mát.

Bính-Súc và Diêm-Chức cùng tắm dưới ao.

Bính-Súc oán hận Tề Ý-Công lắm, muốn giết đi để báo thù cha, nhưng chưa tìm được kẻ đồng chí. Nay thấy Diêm-Chức cũng có cái thù mất vợ muốn cùng Diêm-Chức bàn bạc song khó mở miệng, mới sanh ra một kế, cầm cành trúc đánh vào đầu Diêm-Chức một cái.

Diêm-Chức nổi giận, nói:
- Sao ngươi lại dám khinh ta như vậy ?

Bính-Súc tủm tỉm cười, đáp :
- Người ta cướp vợ mà nhà ngươi còn chưa giận. Ta đánh một cái đã hề chi !

Diêm-Chức nói :
- Mất vợ là điều xấu hỗ, nhưng so với việc chặt chân cha thì đàng nào nhục hơn. Nhà ngươi chẳng thiết gì đến cha mà lại cười ta mất vợ. Rõ là đứa ngu !

Bính-Súc nói :
- Ta có mấy lời tâm phúc, nhưng lâu nay chưa dám nói. Vã lại ta chỉ sợ nhà ngươi quên mất cái thù xưa thì dẫu có nói cũng chẳng ích chi .

Diêm-chức nói :
- Thù ai nấy biết, làm sao quên được, chỉ vì sức không làm nổi.

Bính-Súc nói :
- Nay kẻ thù say rượu, ngủ nơi bụi trúc, còn kẻ theo hầu chỉ có hai ta. Ðó là trời cho chúng ta có dịp để báo thù, nếu bỏ qua mất cơ hội.

Diêm-Chức nói :
- Nếu nhà ngươi có ý định ấy. Ta xin giúp cho một tay.

Hai người cùng nhau lên bờ mặc quần áo, rồi sẻ lén đến bên bụi trúc, trông thấy Tề Ý-Công nằm ngủ có mấy tên nội thị đứng hầu.

Bính-Súc bảo mấy tên nội thị :
- Chúa-Công say rượu lúc thúc dậy thế nào cũng khát nước, Vậy các ngươi phải sửa soạn trước mới được.

Mấy tên nội thị vội vã đi sữa soạn nước uống.

Diêm-Chức và Bính-Súc đè Tề Ý-Công, rút dao cắt lấy đầu quăng xuống ao, rồi khiêng xác giấu trong bụi trúc.

Khi bọn nội thị đến, Bính-Súc nói :
- Thương-Nhân giết vua cướp ngôi, ta đã trừ bõ đi rồi, nay có Công-tử Nguyên là người hiền, nên lập làm vua.

Nói xong Bính-Súc và Diêm-Chức lại ung dung trở về tư dinh đem rượu ra uống, có người báo với Hai quan Thượng-khanh là Cao-Khuynh (con Cao-Hồ), Quốc Quy-Phủ (con Quốc Ý-Trọng).

Cao-Khuynh nói :
- Bọn Bính-Súc thí quân phản nghịch, ta nên hài tội mà giết đi để làm gương cho kẻ khác.

Quốc Quy-Phủ nói :
- Ðứa hôn quân vô đạo, bị giết là phải, ta nỡ nào giết kẻ có công.

Bính-Súc cùng Diêm-Chức uống rượu xong, sai lấy một cỗ xe lớn xếp những của cải lên, dắt vợ con bỏ sang nước Sở.

Cao-Khuynh và Quốc Quy-Phủ họp triều thần thương-nghị, rồi tôn Công-tử Nguyên lên ngôi tức là Tề Huệ-Công.


Ðây nói đến việc nước Lỗ.
Lỗ Văn-Công tên là Hưng, là con nàng Thanh-Khương (con gái Tề Hoàn-Công). Lỗ Văn-Công lấy con gái Tề Chiêu-Công làm phu-nhân sanh được hai con là Ác và Thị. Sau lại lấy con gái nước Tần là Kính-Doanh làm thiếp, cũng sinh được con là Tiếp và Thúc-Miện.
Trong bốn người ấy chỉ có Tiếp là lớn tuổi hơn, nhưng Ác lại là con bà đích nên được lập làm Thế-tử.

Lúc bấy giờ, quyền bính nước Lỗ đều ở trong tay Tam-Hoàn :
1) Mạnh Tôn-Thị là Công Tôn-Ngao, sinh con là Cốc và Nạn.

2) Thúc Tôn-Thị là Công-Tôn Tư, sinh con là Thúc-Trọng Bành-Sinh và Thúc-Tôn Ðắc-Thần. Lỗ Văn-Công cho Thúc-Trọng Bành-Sinh làm Thái-phó dạy Thế-Tử Ác. !

3) Quí Tôn-Thị là Quí Vô-Dật (con Quí-Hữu) sanh con là Quí-Tôn Hàng-Phủ, tức là Quí Văn-Tử.

Lỗ Văn-Công có người con thứ là Công-tử Toại tức Trọng-Toại, nhân vì Công-Tôn Ngao đắc tội với Trọng-Toại, chết ở nước ngoài nên Mạnh Tôn-Thị (tức Công-Tôn Ngao) mất quyền. Bao nhiêu việc triều chính lại về tay Trọng-Thị (tức Trọng-Toại), Thúc-Tôn Thị và Quí-Tân Thị.


Lại nói chuyện Công-Tôn Ngao vì cớ gì lại đắc tội ?

Nguyên Công-Tôn Ngao lấy con gái nước Kỷ là Ðái-Ký (sinh con là Cốc) và Thanh-Ký (sinh con là Nạn) Ðến lúc, Ðái-Ký chết, Công-Tôn Ngao lại muốn lấy gái nước Cử là Dĩ-Thị, nhưng nước Cử từ chối, vì không muốn để Dĩ-Thị làm kế thất.

Công-Tôn Ngao nói :
- Em tôi là Trọng-Toại chưa có vợ, vậy xin cưới Dĩ-thị cho em tôi.

Nước Cử bằng lòng.

Công-Tôn Ngao liền sang đón Dĩ-Thị về cho em mình là Trọng-Toại. Nhưng khi đưa Dĩ-thị về đến đất Yên thuộc nước Cử) .

Công-Tôn Ngao ép duyên, ăn ở với nhau mấy hôm rồi mới đưa về nhà.

Trọng-Toại thấy Công-Tôn Ngao chiếm mất vợ mình, đem lòng căm tức vào nói với Lỗ Văn-Công, xin đem quân đến đánh.

Thúc-Trọng Bành-Sinh can :
- Chỗ anh em, làm như vậy thành ra cốt nhục tương tàn không hay chi !

Lỗ Văn-Công bắt Công-Tôn Ngao phải đem nàng Dĩ-Thị trả về nước Cử để cho Trọng-Toại khỏi giận.

Lúc bấy giờ, hai anh em Công-Tôn Ngao và Trọng-Toại lại giải hòa.

Năm sau, Công-Tôn Ngao được lệnh sai vào triều Châu, nhân dịp ấy bõ sang nước Cử để cùng với Dĩ-Thị đoàn tụ.

Lỗ Văn-Công bỏ qua chuyện ấy, cho con Công-Tôn Ngao là Cốc nối dòng Mạnh Tôn-Thị.

Sau Công Tôn-Ngao nhớ nước Lỗ muốn về, sai người nói với con là Mạnh-Tôn Cốc.

Mạnh-Tôn Cốc liền xin với chú là Trọng-Toại.

Trọng-Toại nói :
- Nếu cha mày muốn về phải theo ba điều : Không được vào triều, không được dự quốc sự, không được đem nàng Dĩ-Thị về.

Mạnh-Tôn Cốc sai người nói với Công-Tôn Ngao.
Công-Tôn Ngao muốn về nên buộc lòng phải thuận theo ba điều ấy.

Công Tôn-Ngao về nước Lỗ tám năm, không bước ra khỏi nhà .

Một hôm buồn lòng, lại bỏ trốn sang nước Cử nữa.

Mạnh Tôn-Cốc thấy cha mình bỏ đi nên nhớ nhung sinh bệnh mà chết.

Con Mạnh-Tôn Cốc là Mạnh Tôn-Miệt hãy còn nhỏ nên Lỗ Văn-Công cho em Mạnh-Tôn Cốc là Mạnh Tôn Nạn lên thế chức Khanh sĩ.

Còn Công-Tôn Ngao qua nước Cử chưa bao lâu, nàng Dĩ-Thị chết . Công Tôn-Ngao lại muốn trở về nước Lỗ, nên viết thư cho con là Mạnh-Tôn Nạn đứng ra xin lỗi Lỗ Văn-Công và Trọng-Toại.

Lỗ Văn-Công thuận cho về, nhưng Công Tôn-Ngao về nửa đường bị bệnh chết nơi đất Ðường-Phù (thuộc nước Tề).

Mạnh Tôn-Nạn tự thấy mình là con kẻ có tội nên từ chối không chịu tham chính .

Vì vậy lúc bấy giờ quyền bính nước Lỗ thuộc về tay Trọng-Toại, Thúc-Tôn Đắc-Thần và Thúc-Trọng Bành-Sinh.

Nàng Kính-Doanh được Lỗ-Văn-Công yêu, nhưng vì là tiểu thiếp nên con không được lập làm Thế-tử, đem lòng căm tức.

Một hôm Kính-Doanh đem lễ vật đút lót với Trọng-Toại, nhờ bênh vực cho con là Công-tử Tiếp.

Trọng-Toại nghĩ thầm :
- Thúc-Trọng Bành-Sinh là quan Thái-phó của Thế-Tử Ác, tất không chịu đồng mưu với mình, còn Thúc-Tôn Ðắc-Thần tính tham vật có thể mua chuộc được. Vậy ta nên bàn với Thúc-Tôn Đắc-Thần là hơn.

Nghĩ rồi đem lễ vật cửa Kính-Doanh chia cho Thúc-Tôn Ðắc-Thần và nói :
- Lễ vật nầy là của Kính-Doanh nhờ chúng ta bảo vệ cho Công-tử Tiếp đó.

Thúc-Tôn Ðắc-Thần nhận lễ, và từ đó thường bàn tính với Trọng-Toại mưu giúp Công-tử Tiếp.

Ðến năm Lỗ Văn-Công mất, Thế-Tử Ác lên nối ngôi, các nước chư hầu đều đến viếng tang .

Bấy giờ Tề Huệ-Công (tức Công-tử Nguyên) mới lên ngôi, muốn đổi lại những chính sách bạo ngược của Tề Ý-Công (tức Công-tử Thương-Nhân) nên cũng sai sứ sang nước Lỗ viếng tang.

Trọng-Toại bảo Thúc-Tôn Ðắc-Thần :
- Tề và Lỗ xưa nay vẫn giao hiếu với nhau. Nước Tề trước đây gây nhiễu thù oán, nhưng Công-tử Nguyên mới lên ngôi mà giữ lễ sang giao hảo với Lỗ, vậy ta nhân cơ hội nầy cho sứ sang giao kết với Tề để làm vây cánh cho Công-tử Tiếp.

Hai người cùng rủ nhau sang sứ nước Tề.

 

 

 

 

 

 

 

Hết Hồi 49  -  Ðông Châu liệt Quốc
Xem Hồi 50