Hồi 50  -  Ðông Châu Liệt Quốc

Trọng-Toại mưu lập Công-tử Tiếp
Triệu-Thuẫn cường giáng Tống Linh-Công

Trọng-Toại và Thúc-Tôn Ðắc-Thần vào ra mắt Tề Huệ-Công và tạ ơn nước Tề đã sai sứ sang viếng tang.

Tề Huệ-Công bày tiệc thết đãi. Nhơn lúc uống rượu, Tề Huệ-Công hỏi Trọng-Toại và Thúc-Tôn Ðắc-Thần :
- Vua nước Lỗ tại sao lại đặt tên là Ác ? Thế gian thiếu gì tên đẹp ?

Trọng-Toại nói :
- Tiên quân tôi lúc sinh Thế-tử Ác có sai quan Thái-sử bói xem tốt xấu thế nào. Quan Thái-sử cho là xấu. Sau nầy tất gặp hung tai. Vì vậy tiên-quân tôi phải đặt tên xấu để trấn áp những cái họa về sau.

Tề Huệ-Công nói :
- Mạng người đã xấu như vậy sao lại lập làm vua ?

Trọng-Toại nói :
- Vì Thế-Tử Ác là con bà đích nên phải lập, chứ tiên-quân thì không có lòng mến yêu, mà chỉ yêu người con lớn tuổi hơn là Công-tử Tiếp.

Tề Huệ-Công nói :
- Cần gì phải dòng đích. Phép xưa vẫn được lập người con lớn tôi hơn.

Thúc-Tôn Ðắc-Thần nói :
- Nước Lỗ tôi vẫn quen lệ lập đích tử, khi nào không có đích-tử mới lập người con lớn tuổi. Bởi vậy, lập Công-tử Ác mà người trong nước không phục. Nếu quí quốc vì nước tôi, đổi vua liền, lập Công-Tử Tiếp lên, thì quí quốc sẽ được nước tôi thần phục mãi.

Tề Huệ-Công đẹp ý nói :
- Nếu hai ngươi muốn việc ấy, ta cũng thuận.

Mãn tiệc, bọn Trọng-Toại về nước Lỗ, nói với Quí-Tôn Hàn-Phủ :
- Ngày nay công nghiệp coi bá chủ nước Tấn đã suy rồi, nước Tề sấp cường thịnh. Chi bằng ta hỏi đích-nữ của vua Tề cho Công-Tử Tiếp, như vậy hai nước thêm thân mật.

Quí-Tôn Hàn-Phủ nói :
- Chúa-công bây giờ là cháu gọi vua Tề bằng cậu. Nếu vua Tề có con gái thì gả cho Chúa-công là phải, sao lại gả cho Công-tử Tiếp ?

Trọng-Toại nói :
- Vua Tề nghe Công-tử Tiếp là người hiền nên muốn định việc hôn nhân.

Công-Tôn Hàn-Phủ nghe nói nín lặng bước về thở dài :
- Trọng-Toại đã có ý khác rồi, ắt nước Lỗ có biến.

Nói xong liền mật báo với Thúc-Trọng Bành-Sinh.

Thúc-Trọng Bành-Sinh nói :
- Ngôi vua đã định rồi, ai còn dám có ý khác.

Thúc-Trọng Bành-Sinh nghe nói cũng bỏ qua.

Trong lúc đó Trọng-Toại và nàng Kính-Doanh bày mưu đem bọn dũng sĩ phục ở chuồng ngựa, phao tin rằng : Ngựa mới đẻ con. Lại bảo Công-tử Tiếp cùng với vua Lỗ (tức là Công-tử Ác) thân hành ra chuồng ngựa xem.

Bọn dũng sĩ nổi dậy, cầm côn đánh chết vua Lỗ, rồi giết cả Công-tử Thị nữa.

Trọng-Toại nói :
- Tuy vua Lỗ đã chết, nhưng quan Thái-phó Thúc-Trọng Bành-Sinh hãy còn, nếu chưa trừ bõ người ấy ắt không ỗn việc.

Nói xong, Trọng-Toại liền sai nội thị giả cách phụng mệnh vua Lỗ đến triệu Thúc-Trọng Bành-Sinh.

Thúc-Trọng Bành Sinh sắp sửa vào triều, có người nhà là Công-nhiễm Vụ-Nhân nghi Trọng-Toại có ý khác bèn can :
- Xin đại quan chớ vào triều, e gặp điều dử !

Thúc-Trọng Bành Sinh nói :
- Vua sai triệu thì dẫu chết cũng không nên chối từ.

Công-nhiễm Vụ-Nhân nói :
- Nếu vua triệu thật thì đại quan không chết, chỉ sợ không phải vua triệu mà chết thì uỗng.

Thúc-Trọng Bành-Sinh không nghe, nhất định ra đi.

Công-nhiễm Vụ-Nhân vừa nắm vạt áo vừa khóc.

Thúc-Trọng Bành-Sinh dứt đứt vạt áo rồi thẳng đến triều.

Khi đến nơi không thấy vua Lỗ đâu cả, mới hỏi bọn nội thị.

Bọn nội thị thưa :
- Chúa-Công vừa ra chuồng ngựa để xem ngựa đẻ.

Thúc-Trọng Bành-Sinh vội thẳng đến chuồng ngựa.

Bọn dũng sĩ áp lại giết chết Thúc-Trọng Bành-Sinh, rồi đem chôn trong đống phân ngựa.

Nàng Kính-Doanh lại sai người báo với Khương-Thị :
- Chúa-Công cùng Công-tử Thị đều bị ngựa đá chết.

Khương-Thị khóc ầm lên, chạy đến chuồng ngựa, thì lúc đó thi thể vua Lỗ đã được đưa ra ngoài Cung môn.

Quí-Tôn Hàn-Phủ hay tin, biết là mưu của Trọng-Toại, nên đến nói với Trọng-Toại :
- Nhà ngươi thật tàn nhẫn quá, sao lại đang tâm làm vậy !

Trọng-Toại nói :
- Ðó là mưu của Kính-Doanh, ta đâu có biết.

Quí-Tôn Hàn-Phủ nói :
- Giả sử nước Tấn đem quân đến vấn tội thì liệu làm sao ?

Trọng-Toại nói :
- Xem việc nước Tề, nước Tấn thì đủ biết kẻ giết vua vẫn chẳng hại gì.

Quí-Tôn Hàn-Phủ ôm thi thể vua Lỗ khóc.

Trọng-Toại nói :
- Kẻ trượng phu phải mưu đại sự cho nước mạnh dân an, lẽ nào lại bắt chước thói đàn bà.

Thúc-Tôn Ðắc-Thần đến hỏi Trọng-Toại :
- Anh tôi là Thúc-Trọng Bành-Sinh ở đâu ?

Trong-Toại giả cách không biết.

Thúc Tôn Ðắc-Thần cười lớn nói :
- Anh ta có chết đi cũng vẫn là trung-thần can gì phải giấu.

Trọng-Toại mới tỏ thật, vào nói với các quan triều thần :
- Ngày nay cần phải lập vua trước đã. Công-tử Tiếp là người hiền lành, lớn tuổi, lập lên làm vua là phải.

Các quan triều đều tuân theo tôn Công-tử Tiếp lên ngôi, xưng hiệu là Lỗ Tuyên-Công.

Thúc-Tôn Ðắc-Thần bới đống phân ngựa ra, đem thi thể Thúc-Trọng Bành-Sinh an táng.

Bà Khương-Thị biết được con mình bị Trọng-Toại giết, vật mình xuống đất khóc lóc mãi không thôi.

Trọng-Toại lại nói với Lỗ Tuyên-Công xin tôn nàng Kính-Doanh lên làm Quốc-mẫu.

Khương-Thị buồn rầu sắp sữa đồ đạc trở về nước Tề.

Trọng-Toại hay tin, giả cách sai người đến nói :
- Chúa-công bao giờ cũng coi phu nhân là Ðích-mẫu, vẫn trọng đãi như thường, can chi phu nhân lại phải về nước Tề.

Khương-Thị mắng :
- Thằng giặc Trọng-Toại đó ! Mẹ con ta có phụ bạc gì nó, mà nó lại tàn ngược như vậy !

Nói xong, Khương-Thị bỏ ra ngoài phố, khóc than mãi.

Người trong nước ai cũng động lòng, bỏ chợ không họp. Vì cớ ấy mà mọi người gọi Khương-Thị là Ai-Khương.

Ai-Khương về nước Tề tỏ nỗi oan khổ của mình.

Tề Huệ-Công có ý ghét, sai người làm riêng một cái cung để cho Ai-Khương ở.


Lại nói đến Thúc-Miện em cùng mẹ với Lỗ Tuyên-Công, vốn người trung-trực, thấy anh mình cậy thế Trọng-Toại giết vua tiếm ngôi, trong lòng khinh bỉ, không vào chúc mừng.

Lỗ Tuyên-Công sai người triệu Thúc-Miện đến hỏi :
- Cớ gì lại không muốn làm quan ?

Thúc-Miện nói :
- Tôi không phải ghét phú quí, nhưng nghĩ đến tình anh em không đành lòng.

Nói xong bỏ về nhà.

Có người bạn nói với Thúc-Miện :
- Công-tử đã không phục mệnh vua, thì sao không bỏ sang nước khác ?

Thúc-Miện nói :
- Anh tôi chưa hề tuyệt tình với tôi, tôi chưa thể bạc nghĩa được.

Lỗ Tuyên-Công sai người đem vàng bạc đến tặng Thúc-Miện.

Thúc-Miện không nhận, nói :
- Tôi chưa đến nỗi đói rét, thì nhận của cải làm chi.

Người bạn nói :
- Công-tử không chịu làm quan, thì cũng đã tỏ chí khí của mình rồi, tiền bạc can gì mà từ chối ?

Thúc-Miện mỉm cười không đáp.

Sứ giả trở về nói lại với Lỗ Tuyên-Công.

Lỗ Tuyên-Công nói :
- Em ta vốn nghèo nàn, nay đã không ra làm quan mà cấp tiền của cũng không nhận, thế thì làm gì để nuôi sống ?

Nói xong sai người đến dò xét, xem Thúc-Miện làm gì, thì thấy Thúc-Miện ngồi vá giày đem ra chợ bán.

Lỗ Tuyên-Công than :
- Thật trong đời chỉ có Thúc-Miện là khác thường hơn cả.

Người nước Lỗ ai cũng khen Thúc-Miện là kẻ có chí khí.

Nhân khi tiết Nguyên-đán, Trọng-Toại tâu với Lỗ Tuyên-Công :
- Nay Chúa-Công chưa có người nội-phủ, xin Chúa-Công sai người sang nước Tề cầu hôn mà lập ngôi Chánh-thất.

Lỗ Tuyên-Công bằng lòng sai Trọng-Toại sang nước Tề thỉnh-hôn.

Tháng hai năm ấy, vua Lỗ cưới con gái vua Tề là nàng Khương-Thị làm Chánh cung.

Trọng-Toại lại ngõ ý với Lỗ Tuyên-Công :
- Chúa-Công mới lên ngôi, nếu không dự hội với các chư hầu thì ngôi vua khó bền vững. Nay xin đem lễ vật đút lót với vua Tề, để vua Tề cho Chúa-công dự hội.

Lỗ Tuyên-Công khen phải, liền sai Quí-Tôn Hàn-Phủ sang tạ ơn nước Tề về việc kết hôn, và xin vua Tề cho dự hội.

Tề Huệ-Công bằng lòng, hẹn đến tháng năm cùng Lỗ Tuyên-Công họp nơi đất Bình-Châu ( thuộc Tề).

Từ ấy, nước Lỗ thường sai sứ sang triều cống nước Tề mãi.



Ðây nói qua việc nước Sở.
Sở Trang-Vương lên ngôi đã ba năm mà không làm được việc gì cả, ngày nào cũng chỉ lo săn bắn, và cùng với cung-nhân mỹ-nữ uống rượu vui vầy.

Các quan triều thần can gián.

Sở Trang-Vương đã không nghe lại truyền yết bảng nơi triều-môn :
- Nếu ai dám can gián sẽ phải tội chết.

Quan Ðại-phu Thân Vô-Úy vào yết-kiến Sở Trang vương, trông thấy Sở Trang-Vương một tay ôm Trịnh-Cơ một tay ôm Sái-Nữ, xung quanh ngự-ỷ để đầy nhạc khí.

Sở Trang-Vương trông thấy Thân Vô-Úy liền hỏi :
- Quan Ðại-phu đến đây muốn uống rượu hay nghe nhạc ?

Thân Vô-Úy thưa :
- Tâu Ðại-vương, tôi đến đây không muốn uống rượu cũng không muốn nghe nhạc. Nhân vừa rồi tôi đi chơi có một người đem đố tôi một câu đố mà tôi không hiểu, nên vào thỉnh thị Ðại-vương.

Sở Trang-Vương hỏi :
- Câu đố đó như thế nào ?

Thân Vô-Úy nói :
- Có một con chim lớn, lông năm sắc, đậu trên gò cao đã hơn ba năm mà không thấy bay cũng không nghe kêu, không biết là con chim gì ?

Sở Trang-Vương hiểu ý Thân Vô-Úy can mình, liền nói :
- Con chim ấy không phải là chim thường. Ba năm không bay tất có thể bay cho đến tận trời. Ba năm không kêu, thì tiếng kêu ắt làm cho người ta phải khiếp sợ. Ngươi chờ xem thì biết.

Thân Vô-Úy sụp lạy lui ra. Ðợi trong ba hôm, thấy Sở Trang-Vương vẫn ăn chơi như cũ.

Quan Ðại-phu Tô-Tòng lại xin vào yết kiến. Khi thấy Sở Trang-Vương, Tô-Tòng khóc òa lên.

Sở Trang-Vương hỏi :
- Vì cớ gì mà khóc ?

Tô-Tòng nói :
- Thân tôi sắp chết, mà nước Sở sắp mất.

Sở Trang-Vương nói :
- Tại sao ngươi phải chết, và nước Sở sắp mất ?

Tô-Tòng nói :
- Tôi muốn can Ðại-vương, tất Ðại-vương không nghe mà giết tôi nên tôi phải chết. Tôi chết rồi thì không ai dám can nữa, mà Ðại vương thì cứ ham mê tửu sắc, làm sao nước Sở không mất.

Sở Trang-Vương sầm nét mặt nói :
-Ta đã ra lệnh hễ ai can đều phạm tội chết. Nhà ngươi đã biết chết mà còn can thì thật là ngu !

Tô-Tòng nói :
- Tôi dẫu ngu nhưng cũng chưa ngu bằng Ðại-vương.

Sở Trang-Vương nỗi giận, trợn mắt, vỗ án hét :
- Sao nhà ngươi lại dám lộng ngôn, bảo ta là ngu !

Tô-Tòng vẫn thản nhiên nói :
- Lời nói phải thì Ðại-vương cho là lộng ngôn ? Ðại-vương là vua một nước, binh hùng tướng mạnh, các chư hầu đều khiếp sợ, thế mà cứ ham mê tửu sắc để đến nỗi các nước lớn khinh bỉ, các nước nhỏ phản bội, thế bảo là không ngu ư ! Cái ngu của tôi dầu phải chết, nhưng được tiếng là trung thần, còn cái ngu của Ðại-vương, nghìn đời còn mai mỉa, thế thì cái ngu nào hơn ? Thôi, tôi không cần phải nói nhiều, xin mượn lưỡi gươm của Đại vương để đâm cổ mình mà chết cho khỏi trái lệnh Ðại vương.

Sở Trang-Vương vội vàng đứng dậy, nắm lấy Tô-Tòng nói :
- Lời của quan Ðại-phu thực là trung liệt, ta nguyện nghe theo.

Nói xong, liền bỏ hết các nhạc khí trong cung, đuổi Trịnh-Cơ và Sái-Nữ đi, lập Phàn-Cơ lên làm chánh hậu.

Trịnh-Cơ và Sái-Nữ có ý phàn nàn.

Sở Trang-Vương nói :
- Khi trước ta săn bắn, Phàn-Cơ thường can gián mà ta không nghe, sau Phàn-Cơ bỏ không ăn thịt các giống cầm thú, thế thì nàng quả là một người hiền.

Sở Trang-Vương lại dùng Vĩ-Giả, Phan-Ương và Khuất-Đãng để chia quyền của quan Tể-tướng Ðấu Việt-Tiêu, và chỉnh đốn lại các việc chính trị trong nước. Sai Công-tử Qui-sinh (người nước Trịnh, đang làm quan nước Sở) đem quân đi đánh Tống.

Quân hai nước Tống và Sở giao tranh ở Ðại-Cực.

Tướng Tống là Hoa-Nguyên bị quân Sở bắt được giải về nước.

Sở Trang-Vương lại sai Vĩ-Giả đem quân cứu Trịnh, cùng nước Tấn giao tranh nơi Bắc-Lâm, bắt được tướng nước Tấn là Giải-Dương.

Nước Sở lại tha cho tướng Tống và Tấn trở về.

Từ bấy giờ nước Sở trở nên cường-thịnh.

Sở Trang-Vương có ý muốn làm Bá chủ Trung-nguyên.

Nước Tấn thấy vậy sợ thế lực mình bị suy kém, nên bàn cách đánh Sở.

Triệu-Thuẫn nói :
- Nay có nước Tần mạnh, nếu hợp sức được với nước Tần thì lấy Sở không khó.

Triệu-Xuyên nói :
- Tần có thuộc quốc gọi là nước Sũng. Nước này tuy nhỏ nhưng dân đông. Nay đem binh đánh nước Sũng thì Tần ắt phải đem binh đến cứu. Chừng ấy ta sẽ giải hòa mà cấu kết với Tần mới được.

Triệu-Sóc nói :
- Nước Tần xưa nay vẫn hiềm thù với nước ta. Nay lại đánh thuộc quốc của Tần nữa. Mà bảo Tần sẽ giảng hòa thế nào được ?

Triệu-Thuẫn không nghe lời Triệu-Sóc, vào tâu với Tấn Linh-Công sai Triệu Xuyên đem quân sang đánh nước Sũng.

Triệu-Sóc nói với Hàn-Quyết :
- Triệu-Thuẫn làm việc này là có ý giúp Triệu-Xuyên giữ lấy quyền thế họ Triệu chứ đâu phải muốn giao hiếu với Tần.

Nước Tần nghe tin nước Tấn đem quân đánh nước Sũng, liền cử binh sang đánh Tấn, vây đất Tiên-Ấp.

Triệu-Xuyên lại phải đem binh về để giải vây cho Tiên-Ấp, sau đó hai bên đều rút binh.

Từ đó, Triệu-Xuyên được giữ binh quyền.

Du-Biền bị bệnh chết.

Triệu-Xuyên thế chức cho Du-Biền.

Tấn Linh-Công năm ấy đã lớn tuổi, sinh ra hoang dâm , bạo ngược, chỉ biết ham mê tửu sắc không kể đến chính sự, lại dùng quan Ðại phu là Ðổ Ngạn-Giả (con Ðổ-Kích, cháu Đổ Ngạn-Di), một kẻ nịnh hót, lăng loàn.

Tấn Linh-Công sai Ðổ Ngạn-Giả lập một cái vườn hoa trong kinh thành, tìm đủ thứ hoa thơm cỏ lạ khắp nơi đem về trồng nơi đó.
Trong vườn, nhiều nhất là hoa đào, cứ về mùa xuân, hoa đào nở trông rất đẹp mắt. Giữa vườn có xây một cái đài cao ba tầng, và một cái tháp gọi là Giáng-Tiên. Tháp ấy làm toàn bằng đá hoa cẩm thạch, ánh mặt trời chiếu xuống tỏa ra đủ màu sắc.

Tấn Linh-Công thường ngày ngự đến Giáng-Tiên lầu để uống rượu.
thưởng hoa.

Một hôm, cùng với Ðổ Ngạn-Giả thi nhau bắn chim, lại truyền cho các phường nhạc trống kinh thành đến đó múa hát. Dân chúng xúm nhau quanh vườn xem đông lắm.

Tấn Linh-Công nói với Ðổ Ngạn-Giả :
- Bắn chim chưa vui. Ta với nhà ngươi bắn người mới là vui. Ta với nhà ngươi thi nhau mỗi người bắn một mũi. Nếu bắn trúng con mắt thì thắng, bắn trúng tay chân không kể, còn bắn trật phải bị phạt một vò rượu.

Nói xong, trao cho Ðổ Ngạn-Giả một cây cung, rồi hai người thi nhau bắn về phía dân chúng đang xem múa hát.

Dân chúng bị tên bắn, kẻ bị trúng mang tai, người bị trúng đầu, tay chân, ù té bõ chạy, miệng nguyền rủa không ngớt lời.

Tấn Linh-Công giận lắm, truyền quân sĩ cùng bắn tên ra như mưa, dân chúng bị tên lớp chết lớp bị thương, kêu khóc như ri.

Tấn Linh-Công đứng trên đài xem thấy vỗ tay cười lớn, nói với Ðổ Ngạn-Giả :
- Ta chơi ở cái đài nầy chưa lúc nào vui như hôm nay.

Từ bấy giờ, người nước Tấn không ai dám đi qua khu vườn hoa ấy nữa.

Kế đó có một người dân nhà Châu đem biếu cho Tấn Linh-Công cột con mãnh khuyễn, tên gọi là Linh-Ngao. Con chó nầy mình cao ba thước, sắc lông đỏ như lửa, lại tinh khôn lắm, biết vâng theo sự sai khiến của người. Mỗi khi kẻ nào có lỗi, Tấn Linh-Công truyền con Linh-Ngao cắn đến chết mới thôi.

Con Linh-Ngao được cấp lương mỗi ngày mấy cân thịt dê do tên tùy cận của Tấn Linh-Công là Ngao-Nô nuôi dưỡng.

Tấn Linh-Công đi chơi đâu, con Linh-Ngao vẫn đi theo. Ai nấy đều khiếp sợ.

Bọn Triệu-Thuẫn thấy vậy khuyên Tấn Linh-Công nên sửa mình, chuộng hiền lánh dử, nhưng Tấn Linh-Công vẫn thản nhiên chẳng thèm nghe lời can gián.

Một hôm bãi triều, các quan lui về hết chỉ còn một mình Triệu-Thuẫn và Sĩ-Hội ở nán lại.

Triệu-Thuẫn nói với Sĩ-Hội :
- Vua không lo chính đạo không kể đến quốc dân, ắt cơ nghiệp nước Tấn điêu tàn.

Sĩ Hội cũng than thở buồn rầu. Giữa lúc đó, bỗng nơi cửa cũng có bọn nội thị khiêng một cái giỏ tre đi ra.

Triệu-Thuẫn nói :
- Tại sao lại có cái giỏ tre từ trong cung khiêng ra. Ðây chắc việc gì lạ.

Nói xong, gọi người nội thị lại hỏi :
-Trong giỏ tre ấy đựng gì ?

Nội-thị không đáp, cứ cắm đầu khiêng đi.

Triệu-Thuẫn nổi giận chạy đến, hét :
- Nếu ngươi không nói ta chém đầu.

Một người tong bọn nội-thị, nói :
- Ngài là quan Tể-tướng, muốn xem thì cứ đến mà xem. Chúng tôi nói ra sợ trái mạng vua nên không dám.

Triệu-Thuẫn thấy nơi miệng giỏ ló ra một cánh tay người liền giở nắp ra xem, thấy trong đó đựng một cái xác chết.

Triệu-Thuẫn hỏi :
- Xác chết nầy của ai ? Vì sao lại lén khiêng ra khỏi cung ?

Một tên nội thị thưa nhỏ :
- Ðây là xác một tên Ngự-thiện lo việc nấu nướng cho Chúa-Công. Vừa rồi Chúa công sai nấu món thịt gấu, người ấy nấu chưa chín, Chúa-công nóng lòng đem chém.

Triệu-Thuẫn quay lại nói với Sĩ-Hội :
- Vua là người nắm giềng mối của quốc gia, nếu coi mạng người như cỏ rác thì làm thế nào giữ nước được. Dầu có chết chúng ta cũng phải liều mình can gián.

Sĩ-Hội nói :
- Ðể tôi vào can trước, nếu Chúa công không nghe, quan Tể-tướng sẽ vào sau.

Tấn Linh-Công đang ngồi trên ngự-ỷ, vỗ đầu con Linh-Ngao đùa giỡn, thấy Sĩ-Hội vào, biết là Sĩ-Hội có ý khuyên mình liền nói :
- Ta đã hối lỗi, các ngươi chớ lắm lời.

Sĩ Hội lui ra, thuật lại với Triệu-Thuẫn.

Triệu-Thuẫn nói :
- Nếu kẻ có lỗi mà biết lỗi sửa chữa thì còn gì quý bằng. Chỉ sợ Chúa-công nói cho qua chuyện.

Sĩ-Hội nói :
- Nếu Chúa-công chịu sửa lỗi thì trong ít ngày sắp tới ắt có chính lệnh.

Hai người đặt hy vọng vào lòng, giã từ trở về dinh.

Ngày hôm sau, Tấn Linh-Công ngự ra nơi vườn hoa như thường lệ .

Triệu-Thuẫn nói với Sĩ-Hội :
- Ta xem Chúa-công hành động như thế thì Không phải là kẻ cố sửa lỗi. Ta phải đến vườn hoa khuyên can mới được.

Nói xong đến cửa hoa viên, đợi cho xa giá Tấn Linh-Công đi qua thì đón lại yết kiến.

Tấn Linh-Công thấy Triệu-Thuẫn đón mình, ngạc nhiên hỏi :
- Ta không có lệnh triệu nhà ngươi bao giờ, sao nhà ngươi lại đến đây !

Triệu-Thuẫn sụp lạy xin lỗi, và tâu :
- Tôi nghe nói dẫu một vị vua vô đạo đến đâu cũng không lấy việc giết người làm vui bao giờ. Nay Chúa-Công nuôi chó để cắn người, bắn tên vào dân chúng để thi tài giết kẻ nô bộc không đáng tội, như vậy làm sao gọi là vua hiền. Vua đã không hiền thì còn ai chịu thờ phụng. Xin Chúa-công nghĩ lại, tự hối cải lấy mình, may ra mới bảo tồn được nước Tấn.

Tần Linh-Công nghe nói có ý thẹn, lấy vạt áo che mặt lại và nói :
- Nhà ngươi hãy lui về. Ta chơi vui một hôm nữa, ngày mai ta sẽ tự lo cải hóa.

Triệu-Thuẫn nói :
- Kẻ thấy điều lỗi là một tai họa thì phải lập tức từ bỏ tai họa ấy đi, cớ sao còn hứa hẹn. Chúa-công đã cho việc chơi bời là trái, mà còn lưu luyến thì chưa phải thực tâm sửa lỗi.

Nói xong đứng chận ở cửa vườn không cho Tần Linh-Công vào.

Ðổ Ngạn-Giả ở bên cạnh thấy thế, nói :
- Quan Tể-tướng can vua là đủ rồi, sao cản xa giá của vua không sợ tội sao . Nếu có điều gì xin cứ để về triều sẽ thương nghị.

Tấn Linh-Công nói :
- Ta sẽ triệu ngươi vào triều ở buổi chầu sáng mai.

Triệu-Thuẫn bất đắc dĩ phải tránh ra một bên chừa lối cho Tấn Linh-Công đi, rồi trừng mắt nhìn Ðổ Ngạn-Giả mắng :
- Mày là đứa nịnh thần. Nước nhà suy vong cũng tại mày cả !

Ðổ Ngạn-Giả nhếch mép cười rồi cùng với Tấn Linh-Công vào vườn hoa thưởng ngoạn.

Trong lúc đang vui cười, Ðổ Ngạn-Giả nhìn Tấn Linh-Công thở dài nói :
- Tiếc thay cuộc vui lần nầy là lần chót !

Tấn Linh-Công nói :
- Sao quan Ðại-phu lại nói như vậy ?

Ðổ Ngạn-Giả nói :
- Tôi chắc rằng từ nay quan Tể-tướng Triệu-Thuẫn không để cho Chúa-công đến đây nữa.

Tấn Linh-Công nỗi giận nói :
- Từ xưa đến nay chỉ có vua kiềm chế bề tôi, chứ bề tôi sao lại kiềm chế vua ! Ý ta không muốn kẻ nào áp bức ta cả.

Ðổ Ngạn-Giả nói :
- Nếu còn Triệu-Thuẫn thì Chúa-công không còn tự-do được.

Tấn Linh-Công hỏi :
- Phải làm cách nào mà trừ được Triệu-Thuẫn ?

Ðổ Ngạn-Giả nói :
- Tôi có biết một người tên Thư-Nghê. Người ấy nghèo, lâu nay vẫn được tôi chu cấp, vì vậy cảm cái ơn tôi dẫu chết để đền đáp cũng chẳng dám chối từ. Nay sai Thư-Nghê đến giết Triệu-Thuẫn ắt xong.

Tấn Linh-Công nói :
- Nếu làm được việc ấy, công của nhà ngươi rất lớn.

Ðêm hôm ấy, Ðô Ngạn-Giả sai triệu Thư-Nghê đến, nói :
- Triệu-Thuẫn chuyên quyền nay ta phụng chiếu sai ngươi đi giết Triệu-Thuẫn. Vậy nhà ngươi nai nịt hẵn hòi, sáng mai chực ở cửa tư dinh Triệu-Thuẫn, chờ Triệu-Thuẫn vào triều thì xông ra đâm chết. Việc làm phải thận trọng chớ để hỏng việc.

Thư-Nghê vâng mệnh, giắt một con dao vào mình, thẳng đến cửa dinh Triệu-Thuẫn.

Lúc đó trời lờ mờ sáng xe giá đã chực sá trước cửa.

Thư-Nghê lẻn vào trong trông thấy Triệu-Thuẫn đã mặc áo đại triết đầu đội mũ, tay cầm hốt, vẻ mặt trầm tư, đang ngồi đợi đến giờ triều kiến, vì lúc ấy còn sớm.

Thư-Nghê trông thấy thất kinh, nghĩ thầm :
- Kẻ lo việc nước là bậc trung thần, cớ sao vua lại truyền giết đi ? Nay ta nghe lời giết một tôi trung là bất trung, mà không giết thì trái mệnh vua, ta lại là kẻ bất tín.

Nghĩ rồi nên đứng trước cửa nói lớn :
- Tôi là Thư-Nghê đây, thà trái mệnh vua chứ không nỡ hại kẻ trung lương !

Nói xong rút lưỡi dao trong mình tự tử.

Quân tùy tùng lật đật áp lại thì Thư-Nghê đã tắt thở.

Quan Xa-hữu là Ðề Di-Minh nói với Triệu-Thuẫn :
- Vua làm việc ám muội, nhưng Thư-Nghê thực đáng khen. Việc đã ra nỗi nầy xin Tể-tướng chớ vào triều vội, e có biến.

Triệu-Thuẫn nói :
- Vua đã hẹn ta sáng nay vào triều thương nghị, nếu ta không đến là trái lệnh vua. Việc sống chết của ta đâu bằng việc nước.

Nói xong, truyền đem xác Thư-Nghê chôn dưới gốc cây, rôi thẳng đến cửa cung.

Tấn Linh-Công thấy Triệu-Thuẫn không chết đưa mắt hỏi.

Ðổ Ngạn-Giả nói nhỏ :
- Thư-Nghê đi chưa thấy về, lại có tin Thư-Nghê tự vận, tôi chưa rõ ý gì. Song cứ như việc nầy thì cơ mưu đã thất bại.

Tấn Linh-Công hỏi :
- Thế thì biết phải làm cách nào để trừ Triệu-Thuẫn ?

Ðổ Ngạn-Giả nói :
- Ngày mai Chúa-công vời Triệu-Thuẫn vào cung uống rượu, phục sẵn quân giáp sĩ ở sau tường. Lúc đang uống rượu nửa chừng, Chúa-công bảo Triệu-Thuẫn đưa lưỡi gươm ra xem. Tôi đứng một bên đợi lúc Triệu-Thuẫn rút gươm ra khỏi vỏ, sẽ quát to rằng : Triệu-Thuẫn thí vua, và hô quân giáp sĩ bắt Triệu-Thuẫn giết đi. Như thế Chúa-công khỏi mang tiếng là giết hại đại thần.

Tấn Linh-Công cho là diệu kế, liền đòi Triệu-Thuẫn vào triều kiến, nói :
- Quan Tể-tướng đã vì nước hết lòng khuyên ta sửa lỗi. Ta cảm ơn ấy nên đã sửa sẵn một tiệc rượu nơi hậu cung, ngày mai xin mời quan Tể-tướng cùng ta đối ẫm đế ghi nhớ cái ngày ta sửa lỗi.

Sáng hôm sau, Triệu-Thuẫn vâng mạng vào hậu cung, có quan Xa-hữu của Triệu-Thuẫn là Ðề Di-Minh theo vào.

Khi bước lên thềm, Ðổ Ngạn-Giả bảo Ðề Di-Minh :
- Nay Chúa-Công mời quan Tể-tướng uống rượu, các người khác không ai được bước lên thềm cung.

Ðề Di-Minh không biết nói sao đành đứng ở dưới thềm.

Triệu-Thuẫn bước lên thềm sụp lạy hai lạy, rồi mới cùng Tấn Linh-Công ngồi vào dự yến.

Khi rượu được vài tuần, Tấn Linh-Công hỏi :
- Ta nghe nói quan Tể-tướng có thanh gươm tốt lắm. Vậy cho ta xem thử.

Triệu-Thuẫn không biết mình bị lừa, toan cởi lưỡi gươm đeo ở cạnh sườn dâng cho Tấn Linh-Công.

Ðề Di-Minh đứng dưới thềm trông thấy thất kinh, nói lớn :
- Bề tôi đến hầu rượu với vua còn chưa dám uống quá chén, cớ sao Tể-tướng lại rút gươm trước mặt vua.

Triệu-Thuẫn hiểu ý, đứng ngay dậy.

Tức thì Ðề Di-Minh bước lên thềm kéo Triệu-Thuẫn xuống.

Ðổ Ngạn-Giả biết cơ mưu của mình đã bị Ðề Di-Minh phá vỡ nên hô con Linh-Ngao đuổi theo cắn.

Triệu-Thuẫn và Ðề-Di-Minh vừa chạy ra đến cửa cung thì con Linh Ngao đuổi kịp, Ðề Di-Minh giật cây dùi đồng đập con Linh Ngao gẫy cổ.

Tấn Linh-Công tức giận hô quân giáp-sĩ đuổi theo Triệu-Thuẫn.

Ðề Di-Minh đứng cản nơi cửa cung để cho Triệu-Thuẫn chạy.

Quân giáp-sĩ chém Ðề Di-Minh đứt làm ba đoạn.

Triệu-Thuẫn đang chạy, thấy có một người đuổi theo gần kịp, thất kinh, hỏi :
- Ngươi quyết theo giết ta sao ?

Người ấy đáp :
- Xin quan Tể-tướng chớ sợ. Tôi theo để bảo vệ quan Tể-tướng đây.

Triệu-Thuẫn hỏi :
- Người là ai mà lại muốn cứu ta ?

Người ấy đáp :
- Tôi là Linh Chiếp, quan Tể-tướng không nhớ người năm xưa nhịn đói nơi bụi dâu trước kia sao ?

Nguyên năm năm về trước, Triệu-Thuẫn đi săn ở Cửu-Nguyên sơn, ngồi nghỉ nơi gốc cây dâu, thấy một chàng trai nằm trong bụi , Triệu-Thuẫn cho là thích khách truyền quân đến bắt.

Chàng trai ấy đói quá không dậy nổi, nói :
- Tôi không phải kẻ gian phi. Tôi là Linh-Chiếp sang học nơi nước Vệ đã năm năm nay, bây giờ trở về nước tiền lưng hết cả không lấy gì ăn, chịu đói đã ba ngày rồi.

Triệu-Thuẫn động lòng thương sai người cho cơm và mấy nắm nem.

Linh-Chiếp ăn một nửa, còn một nửa cất vào giỏ.

Triệu-Thuẫn hỏi :
- Ngươi cất đi một nửa để làm gì ?

Linh-Chiếp đáp :
- Tôi còn mẹ gìa nơi cửa Tông-môn lâu ngày chẳng biết còn mất. Nếu tôi về đây mà mẹ tôi còn sống, tôi sẽ dâng một nửa số thực phẩm nầy để mừng mẹ tôi.

Triệu-Thuẫn khen là hiếu-tử nên cho thêm một số cơm thịt nữa, bảo đem về cho mẹ.

Linh-Chiếp lạy tạ ra đi, sau ứng mộ ra lính lại gặp trong số quân giáp sĩ vừa đuổi bắt Triệu-Thuẫn, nên Linh-Chiếp nghĩ đến ơn trước, cố sức đuổi theo bảo vệ.

Hai người chạy ra khỏi cửa thành thì gặp quân giáp sĩ đuổi theo rất gấp.

Triệu-Thuẫn nói :
- Ta sắp chết đến nơi, nhà ngươi theo ta làm chi. Hãy trốn đi kẻo oan mạng.

Linh-Chiếp nói :
- Dẫu chết tôi cũng phải đền cái ơn thuở nọ.

Giữa lúc đó con Triệu-Thuẫn là Triệu-Sóc hay tin cha bị nạn vội vã đem quân tiếp cứu.

Hai cha con gặp nhau, đánh đuổi đoàn giáp sĩ trở về.

Còn Linh Chiếp cũng bị lẫn đâu mất, tìm không thấy.

Triệu-Thuẫn nói với Triệu-Sóc :
- Cha con ta không thể về dinh được phải tìm nơi lánh nạn.

Triệu-Sóc hỏi :
- Phụ thân định đi đâu ?

Triệu-Thuẫn nói :
- Một là sang nước Ðịch, hai là sang nước Tần.

Bấy giờ hai cha con cùng ra cửa Tây môn, bỏ trốn.

 

Hết Hồi 50  -  Ðông Châu liệt Quốc
Xem Hồi 51