Trong khi luyện tập TCQ , tác pháp của bàn tay có ba loại : quyền
, chưởng và câu . TCQ tuy gọi tên như thế nhưng trên thực tế lại
rất ít khi dùng quyền , tức là quả đấm , mà hay dùng chưởng ,
tức là bàn tay , còn câu , tức là năm ngón tay rũ xuống tự nhiên
và các đầu ngón tay chụm lại , chỉ thấy ở thức Ðơn Tiên mà
thôi .
Các thủ pháp trên được trình bày giản lược như sau :
Ác quyền pháp (pháp nắm tay thành quả đấm) :
Bốn ngón tay dựa vào nhau cuộn lại , ngón tay cái đạt ngang
trên lóng (đốt) ngón tay thứ hai của hai ngón , ngón trỏ và ngón
giữa . Khi nắm quyền , không nắm quá chặc hoặc quá lõng . Quá
chặc thì phương hại đến sự tuần hoàn của máu . Quá lõng thì
mất thực dụng . Trong khi đấm ra thì quyền và cánh tay duổi xuôi
thẳng , không thể hướng ra ngoài hoặc vào trong mà vặn cổ tay ,
Nhưng thông thường người ta hay phạm vào lỗi gập cổ tay đấm
ra ngoài . Gập cổ tay hướng ra ngoài hay vào trong đều làm cho cổ
tay cương lên , làm máu huyết không lưu thông được . Ngoài ra khi
chiến đấu dễ bị thương , vì vậy nên cố gắng tránh khuyết
diểm này .
Chưởng Pháp (Phép đanh bằng bàn tay để tự nhiên) :
Chưởng có hai nghĩa , rộng và hẹp . Nghĩa rộng là nói cả bàn
tay . Các ngón tay duổi mở , đánh địch bằng toàn thể bàn tay thì
gọi là chưởng . Nghĩa hẹp của chưởng chỉ bộ phận tương đối
có da có thịt một chút là từ cườm cổ tay cho tới cuối
ngón tay út >
Danh từ "Chưởng" trong TCQ bao quát cả hai ý nghĩa trên .
Thân chưởng pháp (Phép để tay duổi thành chưởng) như sau : năm
ngón tay hơi cong , không được duổi thẳng , các ngón tay không khít
nhau mà để hở , mỗi khi đưa chưởng ra cổ tay không được cong
gập lại đưa chưởng ra hoặc thu về đều không được dùng sức
, bởi vì nhướng gân hay dùng sức đều trở ngại cho máu huyết
lưu thông .
Câu pháp (Phép túm tay thành cái móc câu) :
Có hai cách làm thành tay lưởi câu . Cách thứ nhất là đầu ngón
tay cái và hai đấu ngón tay của ngón trỏ và ngón út chụm lại ,
còn ngón giữa và ngón áp út dựa vào nhau . Cách thứ hai là đầu
ngón cái và hai đầu ngón tay của ngón trỏ và ngón giữa chụm lại
, cón ngón út và ngón áp út dựa vào nhau . Hai cách trên có giá trị
như nhau . Ðiều quan trọng là các ngón tay buông thả tự nhiên , cổ
tay buông lõng , toàn thể bàn tay rũ xuống tự nhiên .
Xét về hình thức của tay , thông thường thì chỉ có ba loại nói
trên . Nhưng ba hình thức của tay trong TCQ thường biến hóa luôn ,
cho nên mỗi khi biến đổi phải làm chầm chậm , không thể làm
nhanh quá hoặc ra sức , thêm vào đó cổ tay không được cương lên
.