26. Bộ Pháp Cơ Bản Của TCQ Có Mấy Loại ? Yếu Ðiểm Của Các Bộ Pháp Ấy Như Thế Nào ? Bước Như Thế Nào Mới Gọi Là Ðúng Cách ?

Bộ pháp cơ bản của TCQ có năm loại : Cung Ðắng Bộ , Kỵ Mã Bộ , Ðinh Hư Bộ , Bán Phó Bộ và Bát Tự Bộ .

1. Cung Ðắng Bộ :
Chân trước gảy cong như cây cung , chân sau duổi thẳng ra (đặng hay đắng : đạp ra , dẫm lên) , nên gọi là cung đắng bộ ; còn gọi là cung tiển bộ vì chân trước gập cong như cây cung , chân sau duổi thẳng như cây tên , cung tiển bộ trong TCQ , so với trong trường quyền Thiếu Lâm có hai điểm bất đồng . 
Ðiểm thứ nhất là khoảng cách giữa hai bàn chân gần hơn , khoảng cách này ước chừng hai hay ba bàn chân .
Ðiểm thứ hai là trọng lượng nữa thân trên hoàn toàn do chân trước chịu hết , để chân sau có thể tự do di chuyển . Trong TCQ , loại bộ pháp này được sử dụng rất nhiều . Như trong các thức Lãm Tước Vĩ , Lâu Tất Ảo Bộ , Ban Lan Trủy đều dùng bộ pháp này .

2. Kỵ Mã Bộ :
Còn gọi là kỵ thức , ý nuốn nói tư thức này như là cưỡi ngựa vậy . Tư thế chuẩn bị dời chân trái về phía trái (tức là dời ngang chân trái sau khi rùn chân nhón gót) độ nữa bước , hai bàn chân gần như song song , cách nhau hơn một khoảng rộng độ chiều rộng của vai . Thân thể ngồi xuống thành "bán tồn thức" tức là tư thế ngồi xoạc chân một nữa , hai đầu gối không quá mũi chân , hông và eo cao hơn đầu gối , buông lõng eo và bắp đùi , nữa thân trên phải thẳng . Yêu cầy của bộ pháp này trong TCQ không giống như của Thiếu Lâm . Như về khoảng cách hai bàn chân thì lấy bề rộng của vai làm chuẩn , thân người ngồi xoạc xuống quá sâu , mục đích là để hai chân có thể biến hóa hư thực dễ dàng ; bộ phận bụng có hơi cong một chút để khí huyết lưu thông . Trong TCQ kỵ nhất là phạm phải bệnh song trọng , mà bộ pháp kỵ mã thức có tính song trọng rõ rệt , cho nên trong TCQ bộ pháp này rất ít khi dùng đến . Chỉ ở trong các thức Tả Ðơn Tiên , Phản thhân phiết thân trủy mới ứng dụng bộ pháp này .

3. Ðinh Hư Bộ :
Là hai chân đặt thành hình chữ 'Ðinh" , tức là một chân có bàn chân dính với mặt đất , còn một chân thì gót hổng , mũi chấm đất . Bộ pháp này đáp ứng được yêu cầu về sự phân biệt hư thực trong TCQ . So với đinh hư bộ của Thiếu lâm thì không có gì khác lắm , chẳng qua chỉ khác ở chổ hai chân không tạo thành hình chữ đinh  một cách vuông vắn , mà mũi chân của chân hư , thuạn hướng chân , hơi hướng về một bên , Trong TCQ , các tư thức dùng bộ pháp này như Cao Thám Mã , thượng Bộ Thất Tinh , Hải Ðề Châm .

4. Bán Phó Bộ :
Còn gọi là bán phó thức . Bộ pháp này như sau : Một chân gập lại hoàn toàn , lòng bàn chân dính với mặt đất , một chân hướng về trái (hoặc phải) duổi thẳng , ngang trên mặt đất , lòng bàn chân liếm ngang mặt đất . Nhưng nên chú ý , trong TCQ , yêu cầu của thức này là hai bàn chân không được cách nhau quá xa , để tránh khỏi tình trạng cương nghạnh mất linh hoạt . Ðơn tiên hạ thức của TCQ có bộ pháp này .

5. Bát Tự Bộ :
Hai chân đứng thẳng , cách nhau cở hai vai . Hai mũi chân đều hướng xéo ra ngoài , như hình chữ bát . Xét hai chân trong thế đứng của bộ pháp này thì hai chân luôn luôn thay nhau cong duổi , biến hóa hư thực . Nếu chân trái cong thì chân phải duổi thẳng và ngược lại . Trọng lượng của thân thể lúc nào cũng đặt trên chân cong . TCQ có thức Vân Thủ đi bộ pháp này .
Mỗi động tác của TCQ đòi hỏi phải được thực hiện từ từ chậm chậm , tốc độ đều đặn . Do đó không kể lúc tiến trước hoặc thối sau , bộ pháp phải khoan thai , phân chia hư thực rõ ràng , một bước đạp thực (dẫm xuống thành chân thực) rồi mới bước một bước khác , như là mèo đi vậy . Mèo là loài động vật đi bằng ngón chân , khi bước đi rất nhẹ nhàng linh động , chạy mau một cách êm ả không gây tiếng động đó là ưu điểm của loài động vật này . Ta nên bắt chước khi tập TCQ .