Bộ pháp cơ bản của TCQ có năm loại : Cung Ðắng Bộ , Kỵ Mã Bộ , Ðinh Hư Bộ , Bán Phó Bộ và Bát Tự Bộ .
1. Cung Ðắng Bộ :
Chân trước gảy cong như cây cung , chân sau duổi thẳng ra (đặng
hay đắng : đạp ra , dẫm lên) , nên gọi là cung đắng bộ ; còn
gọi là cung tiển bộ vì chân trước gập cong như cây cung , chân
sau duổi thẳng như cây tên , cung tiển bộ trong TCQ , so với trong
trường quyền Thiếu Lâm có hai điểm bất đồng .
Ðiểm thứ nhất là khoảng cách giữa hai bàn chân gần hơn , khoảng
cách này ước chừng hai hay ba bàn chân .
Ðiểm thứ hai là trọng lượng nữa thân trên hoàn toàn do chân trước
chịu hết , để chân sau có thể tự do di chuyển . Trong TCQ , loại
bộ pháp này được sử dụng rất nhiều . Như trong các thức Lãm
Tước Vĩ , Lâu Tất Ảo Bộ , Ban Lan Trủy đều dùng bộ pháp này
.
2. Kỵ Mã Bộ :
Còn gọi là kỵ thức , ý nuốn nói tư thức này như là cưỡi ngựa
vậy . Tư thế chuẩn bị dời chân trái về phía trái (tức là dời
ngang chân trái sau khi rùn chân nhón gót) độ nữa bước , hai bàn
chân gần như song song , cách nhau hơn một khoảng rộng độ chiều
rộng của vai . Thân thể ngồi xuống thành "bán tồn thức"
tức là tư thế ngồi xoạc chân một nữa , hai đầu gối không quá
mũi chân , hông và eo cao hơn đầu gối , buông lõng eo và bắp đùi
, nữa thân trên phải thẳng . Yêu cầy của bộ pháp này trong TCQ
không giống như của Thiếu Lâm . Như về khoảng cách hai bàn chân
thì lấy bề rộng của vai làm chuẩn , thân người ngồi xoạc xuống
quá sâu , mục đích là để hai chân có thể biến hóa hư thực dễ
dàng ; bộ phận bụng có hơi cong một chút để khí huyết lưu thông
. Trong TCQ kỵ nhất là phạm phải bệnh song trọng , mà bộ pháp kỵ
mã thức có tính song trọng rõ rệt , cho nên trong TCQ bộ pháp này
rất ít khi dùng đến . Chỉ ở trong các thức Tả Ðơn Tiên , Phản
thhân phiết thân trủy mới ứng dụng bộ pháp này .
3. Ðinh Hư Bộ :
Là hai chân đặt thành hình chữ 'Ðinh" , tức là một chân có
bàn chân dính với mặt đất , còn một chân thì gót hổng , mũi
chấm đất . Bộ pháp này đáp ứng được yêu cầu về sự phân
biệt hư thực trong TCQ . So với đinh hư bộ của Thiếu lâm thì không
có gì khác lắm , chẳng qua chỉ khác ở chổ hai chân không tạo
thành hình chữ đinh một cách vuông vắn , mà mũi chân của
chân hư , thuạn hướng chân , hơi hướng về một bên , Trong TCQ ,
các tư thức dùng bộ pháp này như Cao Thám Mã , thượng Bộ Thất
Tinh , Hải Ðề Châm .
4. Bán Phó Bộ :
Còn gọi là bán phó thức . Bộ pháp này như sau : Một chân gập lại
hoàn toàn , lòng bàn chân dính với mặt đất , một chân hướng về
trái (hoặc phải) duổi thẳng , ngang trên mặt đất , lòng bàn chân
liếm ngang mặt đất . Nhưng nên chú ý , trong TCQ , yêu cầu của
thức này là hai bàn chân không được cách nhau quá xa , để tránh
khỏi tình trạng cương nghạnh mất linh hoạt . Ðơn tiên hạ thức
của TCQ có bộ pháp này .
5. Bát Tự Bộ :
Hai chân đứng thẳng , cách nhau cở hai vai . Hai mũi chân đều hướng
xéo ra ngoài , như hình chữ bát . Xét hai chân trong thế đứng của
bộ pháp này thì hai chân luôn luôn thay nhau cong duổi , biến hóa hư
thực . Nếu chân trái cong thì chân phải duổi thẳng và ngược lại
. Trọng lượng của thân thể lúc nào cũng đặt trên chân cong .
TCQ có thức Vân Thủ đi bộ pháp này .
Mỗi động tác của TCQ đòi hỏi phải được thực hiện từ từ
chậm chậm , tốc độ đều đặn . Do đó không kể lúc tiến trước
hoặc thối sau , bộ pháp phải khoan thai , phân chia hư thực rõ ràng
, một bước đạp thực (dẫm xuống thành chân thực) rồi mới bước
một bước khác , như là mèo đi vậy . Mèo là loài động vật đi
bằng ngón chân , khi bước đi rất nhẹ nhàng linh động , chạy
mau một cách êm ả không gây tiếng động đó là ưu điểm của
loài động vật này . Ta nên bắt chước khi tập TCQ .