Khi tập TCQ , mồm miệng có thể chia làm năm phương diện : môi , răng , lưỡi , hít thở , và nước miếng .
1. Môi : Hai bờ môi nên hơi hé nụ , không mím môi chặc , nhưng cũng không mở rộng , nếu mím môi chặc thì phương hại cho sự hô hấp , mà mở rộng thì không hợp vệ sinh , bị "thương khí" và cũng kém mỹ quan .
2. Răng : Hai hàm răng không nghiến chặt mà hơi hơi tách ra , nếu hai hàm răng nghiến chặt lại thì cơ nhai và xương hàm bị đặt trong tình trạng khẩn trương (căng thẳng) , do đó không những làm hại răng mà còn làm trở ngại khi thở ra .
3. Lưỡi : Lưỡi không thè ra , không uốn cong lại , nhưng để cho khỏi bị khô miệng , giúp cho nước miếng dễ chảy , thỉnh thoảng nên dùng đầu lưỡi rà nhẹ vòm trên của miệng .
4. Hít thở : Diều này đã nói rõ ở phần 21 . Ở đây chỉ nhắc lại cho rõ là khi tập TCQ , thường chỉ xử dụng mũi để hít vào thở ra . Tuy nhiên , khi làm những động tác tương đối lớn , có thể dùng mũi hít vào và dùng miệng thở ra . Nhưng nên nhớ là trong TCQ , cách hít thở này hiếm khi xử dụng . Cũng cần nên nói thêm là khi đi quyền không nên cười nói , vì sự cười nói khi vận động có ảnh hưởng nhất định đến sự hô hấp , và vì vậy sẽ có hại cho sức khõe .
5. Nước miếng : Khi có nước miếng thì tùy lúc nuốt vào chớ không được nhổ ra . Khi đi quyền , các cơ năng hô hấp , tuần hoàn làm việc mạnh , cho nên hiện tượng phân bí (chảy ra) trong thân thể cũng theo đó mà nhiều hơn , như vậy nước miếng cũng chảy ra nhiều hơn và điều này là chuyện thông thường . Nước miếng nhiều , không những giúp ích cho việc tiêu hóa mà còn có lợi cho sự hô hấp .