Khi Luyện TCQ , không nên gây căng thẳng ở cơ nhục, mà tinh thần phải hết sức chủ ý , như thế gọi là 'Dụng ý bất dụng lực" .
"Ý" là cái gì ? Theo nghĩa chữ mà nói thì ý hàm ngụ cái nghĩa ý niệm , ý thức , tâm ý , tuy gần gủi với quan niệm ý của TCQ nhưng không lột tả được hết . Cái gọi là "ý" trong TCQ chỉ là tác dụng của tinh thần . Nói cụ thể hơn , trong quá trình luyện tập TCQ , tiểu não và trung khu vận động của đại não bì tằng (hai bộ phận này có liên hệ mật thiết tới sự hoạt động của thân thể) , đối với các hoạt động của các bộ phận trong thân thể , tăng gia sự khống chế một cách có ý thức , như vậy TCQ gọi là dụng "ý" .
"Lực" là cái gì ? Sức lực của thân thể phát sinh từ sự co thắt của cơ , gân , sụn . Người có bắp thịt nở nang , thì sức lực nggười ấy tương đối nhiều ; những người lao động chân tay , những vận động viên , tương đối có sức khõe hơn người bình thường (sự co thắt của bắp thịt cũng chịu sự chi phối của hệ thống thần kinh mới tạo lực được) .
Thế thì tạo sao TCQ lại yêu cầu phát rtiển tác dụng của ý mà không phát triêẻn lực ? Ðó là bởi vì :
1. Ðộng tác của TCQ phải khinh linh , rất kỵ dùng chuyết kình ( kình lực vụng về ) làm cho cơ nhục căng thẳng . Ðể ngừa sự căng thẳng của cơ nhục nên phải dụng ý .
2. Vận động thân thể cốt để xúc tiến sự tuần hoàn của máu , nếu làm cơ nhục quá căng thẳng thì chướng ngại sự tuần hoàn của máu , cho nên khi dụng lực đến mức quá đáng dễ sinh ra hiện tượng ứ huyết , trong khi đó động tác TCQ thì nhu hòa hoãn mạn , lại phối hợp với nguyên tắc dụng ý bất dụng lực nên không hề sinh ra các bệnh kể trên .
3. Kết quả của sự dụng ý là tác dụng cải tiến cơ năng hệ thần kinh . Vì sự phức tạp của các động tác của TCQ nên đại não bị đặt trong tình trạng căng thẳng để hoàn thành các động tác đó , tức là gián tiếp gây tác dụng huấn luyện hệ thống trung khu thần kinh , kích thích sự hoạt động có tính cách cơ năng của các khí quan và hệ thống ; nếu kiên trì luyện tập lâu năm , sẽ có thể dần dần làm cho cốt cách cứng cỏi , cơ nhục mềm mại , cảm giác linh mẩn ; sự xử dụng kình lực sẽ tùy ý chí mà di chuyển , năng thâu năng phóng , năng tùng tâm sở dục , và khi chiến đấu hễ mới chạm là đã phát . Ðây là ý nghĩa của sự dụng ý bất dụng lực .
Ðể đạt được yêu cầu dùng ý bất dụng lực , cần chú ý vài điểm sau :
1. Khi luyện tập TCQ , không được dụng lực ở bất kỳ những động tác nào ; những động tác phải viên hoạt tung nhuyễn ; khi dùng quyền thì không nắm chặc quyền , khi đã quyền không được dùng mãnh kình ; khi dụng cước cũng từ từ nhè nhẹ treo chân và từ từ đá ra , không dùng sức không cầu thắng , chỉ cầu tinh thần quán chú vào lòng bàn chân , tức là đặt ý tại đó .
2. Ý tùy theo động tác mà di động . Sự di động của ý có liên hệ mật thiết tới sự tuần hoàn của máu . Như ở động tác Ðơn tiên , ý từ tay phải thông qua lưng mà qua tay trái , tức là đem máu ở tay phải trở về tim , đồng thời , một phần máu do động mạch thông qua vai , chỏ , cổ tay mà đến bàn tay trái , và lúc tay trái duỗi ra ắt có cảm giác các đầu ngón tay trương ra , nở ra , chính là máu chảy đến . Trong TCQ sự đáo đạt (sự đến nơi) của ý ở bất kỳ động tác nào cũng thế cả .
3. Lúc luyện tập thôi thủ , cũng cần phát huy tác dụng của ý , bởi vì sự dụng ý có được thỏa đáng hay không có quan hệ mật thiết với sự đắc thắng hay không .