43. " Thập Lục Quan Yếu " Của TCQ Có Nội Dung Gì ?

   Các nhà quyền thuật cận đại đã quy nạp những điều cần thiết khi tập TCQ thành 16 điểm quan trọng , gọi là Thập lục quan yếu . Ðó là :

     1. Hoạt bát ư yêu .                                              9. Liễm chi ư tủy .

     2. Linh cơ ư đỉnh .                                              10. Ðạt chi ư thần .

     3. Thần thông ư bối .                                          11. Ngưng chi ư nhĩ .

     4. Lưu hành ư khí .                                             12. Tức chi ư tỵ  .

     5. Hành chi ư thối .                                             13. Hô chi ư phúc .

     6. Ðắng chi ư túc .                                              14. Túng chi ư tất .

     7. Vận chi ư chưởng .                                         15. Phát chi ư mao .

     8. Quán chi ư chỉ .                                              16. Hồn ngạc nhất thân .

     1. Hoạt bát ư yêu : Cái eo chiếm một địa vị trọng yếu trong TCQ . Một cái eo buông lỏng linh hoạt hoặc vụng về cương ngạnh có ảnh hưởng rất lớn đối với thân và tứ chi . Sự khinh linh viên hoạt của động tác TCQ chỉ có được trên cơ sở là cái eo linh hoạt . Ðó là ý nghĩa của hoạt bát ư yêu .

     2. Linh cơ ư đỉnh : Về điểm này chỉ có hai giải thích :

          a. Tức là hư linh đỉnh kình .

          b. Tức là cái động cơ linh hoạt phát xuất từ đỉnh đầu điều khiển sự hoạt động đáp trái ứng phải của toàn thân , tức là sự hoạt động của đại não có thể khống chế toàn thân . Trong khi luyện quyền , tinh thằn càng tập trung cao độ thì tác dụng của sự hoạt động của hệ thần kinh cao cấp càng được phát huy .

     3. Thần thông ư bối : Ở đây , bối ( lưng ) là tích bối ( vùng lưng dọc cột xương sống ) . Trên thân thể , lưng chiếm một địa vị trọng yếu , lên trên là đầu , qua trái và phải thì thông qua hai vai mà đạt đến cánh tay , đi xuống thì qua eo , háng mà đạt đến chân , cho nên tích bối , đối với thân thể , là chổ giao thông rất thuận lợi (tứ thông bát đạt) ; thần (tích tủy và thần kinh) thông qua bối mà đi khắp châu thân ; nhưng muốn đạt được mục đích thần thông ư bối , phải thực hiện dưới tác dụng của tinh thần một cách có ý thức , làm cho thần đi khắp toàn thân ; như dụng ý , vận kình , đều có thể thông qua tích bối mà đến khắp tứ chi .

     4. Lưu hành ư khí : Ý muốn nói khí lưu hành khắp thân . Làm thế nào để khí huyết lưu hành khắp thân ? Ðiều này thì trong lúc luyện quyền , chú ý đến việc kết hợp hô hấp và sự dụng ý bất dụng lực .

     5. Hành chi ư thối .

     6. Ðắng chi ư túc .

     7. Vận chi ư chưởng .

     8. Quán chi ư chỉ .

     Bốn điều quan yếu này muốn nói rằng trong lúc luyện TCQ , tinh thần và khí huyết đạt đến các bộ phận trên thân thể như thế nào ; thông qua thối và tý ( đùi và tay ) , vận đến thủ chưởng ( bàn tay ) và túc chích ( bàn chân ) , sau cùng rót đến đầu ngón tay và đầu ngón chân .

     9. Liễm chi ư tủy .

     10. Ðạt chi ư thần .

     Trước đây có nói rằng khi luyện quyền phải nội liểm tinh thần . Nội liểm có nghĩa là nội thâu . Lúc luyện quyền , không chú ý bất cứ sự vật gì của hoàn cảnh , mà chỉ chú ý tới một điều là dụng ý bất dụng lực , như vậy tinh thần không những nội liểm mà còn đạt đến cốt tủy , nên gọi là liểm chi ư tủy . Thật ra đây chỉ là thu liểm tinh thần vào trong một cách hoàn hảo ( tập trung tinh thần một cách hoàn hảo ) . Lâu ngày , tạo ảnh hưởng tốt cho hệ thần kinh , nhất là vỏ đại não , làm cho vỏ đại não được bồi dưỡng , nên gọi là đạt chi ư thần .

     11. Ngưng chi ư nhĩ : TCQ đòi hỏi động trung cầu tĩnh , tránh ngoại vật kích thích . Như thế tức là đòi hỏi tai mắt phải ra sao ? Về vấn đề nhãn thần , đã có nói qua ở trên . Còn ở đây chỉ nói về thính giác . Ngưng chi ư nhĩ là làm cho cái công năng của tai , tức là thính giác , ngưng tĩnh lại , không còn nghe âm thanh nữa , để mà tập trung tinh thần .

     12. Tức chi ư tỵ  : Tức là hít thở bằng mũi , cũng có khi thở ra bằng miệng nhưng không được hít vào bằng miệng .

     13. Hồ chi ư phúc : Về phương thức hô hấp , có hai cách : hung thức và phúc thức . Người ta bình thường hô hấp bằng ngực , còn TCQ thì đòi hỏi phải thở sâu , dài , đều , im , nên chủ trương thở bằng bụng .

     14. Túng chi ư tất : Ðầu gối là quan tiết trọng yếu của hạ chi , và trong các quan tiết , nó tương đối nhu nhược dễ bị bệnh , như các bệnh viêm quan tiết và dây chằng bị thương , chủ yếu là do khí huyết không thông . Cho nên , túng chi ư tất trong TCQ là làm sao cho huyết khí rút đến quan tiết đầu gối .

     15. Phát chi ư mao : Lông tóc con người , sinh từ trong da ,đầu dưới của lông là gốc lông , trong gốc lông có huyết quản vi ti vận chuyễn chất dinh dưỡng và oxygen ; lúc tuổi thanh niên khí huyết thịnh vượng thì lông mọc nhiều dài và nhanh , lúc tuổi già thì khí huyết suy nhược , lông tóc dần dần rụng rơi và ngã sang màu bạc . Luyện tập TCQ là để tăng cường thể chất , thể lực . Nhờ vận hành khí huyết đến tận gốc lông nên lông mọc dài , giảm thiểu sự rụng và biến màu . Phát chi ư mao biểu hiện một kết quả cụ thể của sự vận động TCQ .

     16. Hôn ngạc nhất thân : Thuật ngữ này muốn nói rằng trong lúc đi quyền , xử dụng ý và và vận kình tại khắp thân thể là một khí hoàn chỉnh . Nhân thể là một thể hoàn chỉnh thống nhất , hoạt động của các cơ quan khí quan hệ mật thiết với nhau , dưới sự chi phối của hệ thần kinh . TCQ là thứ vận động phát triển cơ thể một cách điều hòa : " Nhất động vô hữu bất động , nhất tĩnh vô hữu bất tĩnh " , " Kỳ căn tại cước , phát ư thối , chủ tể ư yêu , hình ư thủ chỉ ; do cước nhi thối nhi yêu , tổng tu hoàn chỉnh nhất khí " . Như vậy bằng sự vận động này mà thân thể phát triển toàn diện .