50. Có Bao Nhiêu Dộng Tác Thôi Thủ ?

     Nội dung của thôi thủ có tám động tác : băng , lý , tê , án , thái , liệt , trửu , kháo . Thường được phân biệt làm tứ chính thôi thủ bao gồm bốn động tác đầu , và tứ ngưng thôi thủ gồm bốn động tác sau .

     1. Băng ( quen đọc là bằng ) : Có ý nghĩa nâng lên trên , lúc đáp thủ , phát kình nghịch đối phương , làm kình lực đối phương không thể đi xuống , gọi là bằng , nếu làm đúng phép có thể làm đối phương bay bổng lên .

     2. Lý : Lúc đáp thủ , nếu đối phương dùng thế bằng hoặc thế tê đối với ta , thì ta thuận thế mà lý về đàng sau bên dưới ; nếu làm đúng thế có thể làm đối phương ngã nhào về đàng trước .

     3. Tê : Lúc đáp thủ ta dùng bàn tay  hoặc cánh tay ngăn đẩy đối phương , làm đối phương không thể động thủ , rồi sau đó đẩy đối phương ra .

     4. Án : Lúc đáp thủ , nếu đối phương dùng thế tê đối với ta , thì ta liền dùng tay hạ án phá thế tê .

     5. Thái : Lúc đáp thủ , hễ nén (chế) đối phương , nắm bắt (thái : hái lấy) lực của đối phương ngay sát thân của đối phương , đều gọi là thái . Người giỏi dùng thế thái không kể lực của đối phương công kích tới như thế nào chăng nữa , đều có thể thái mà phá giải , và chọn chổ nhược của đối phương mà phản công lại .

     6. Liệt : Có nghĩa là làm xoay chuyển (nửu chuyển) ; lúc đáp thủ nếu ta dời được , hóa giải được lực của đối phương và tấn công đối phương , gọi là liệt , mà trong lực học gọi là phân giải lực lượng đối phương , rối từ trắc diện tấn công thì có thể châu chấu đá voi .

     7. Trửu : Là quan tiết ở giữa cánh tay . Trong TCQ , dùng chỏ đánh địch gọi là dùng thế trửu .

     8. Kháo : Dùng vai và mé ngoài của lưng đánh địch gọi là kháo ; lúc tiếp cận thân địch chính là cơ hội thích hợp để dùng kháo , chớ xem thường .