Mười thân pháp của TCQ là :
1. Hàm hung 6. Ðiếu đáng
2. Bạt bối 7. Tung kiên
3. Lý đáng 8. Trầm trửu
4. Hộ đồn 9. Thiểm chiến
5. Ðề đỉnh 10. Ðẳng na
Tám thân pháp đầu là các điểm quan trọng về phương diện thể thế mà ta phải tuân thủ khi luyện tập . Ðã được giải thích ở các phần trên , không cần lập lại , Ở đây chỉ đề cập hai thân pháp "thiểm chiến" và "đẳng na" .
Thiểm chiến còn gọi là "thiểm triển" , có nghĩa là mẫn tiệp , tấn tốc (nhanh vùn vụt) . (Thiểm nghĩa đen là chớp trong sấm chớp) , "Ðẳng na" (đẳng là chồm tới , nhảy vút lên ; na là dời , nhấc) chỉ sự linh mẫn của sự biến hóa của thân pháp và sự di động của bộ pháp . Lúc đi quyền nên chú ý yếu lĩnh này , và nhất là lúc hai người thôi thủ lại càng phải chú ý đến hai thân pháp này mới tránh được cái tệ chậm chạp , nặng nề , vụng về .
Có người hiểu lầm TCQ thế này . Ðộng tác TCQ khi tập thì chậm chạp , lúc tập thôi thủ cũng không nhanh lắm . Và họ kết luận là về mặt chiến đấu , giá trị của TCQ không cao , tác dụng không lớn .
Họ có biết đâu động tác chậm rãi của TCQ là có cơ sở lý luận đàng hoàng , hơn nữa là loại động tác chậm rãi có giá trị rất cao về mặt sinh lý . Tập thôi thủ tương đối chậm rãi có chủ yếu là bồi dưỡng cảm giác linh mẫn để đạt đến tình trạng đống kính .
Bất luận đi quyền một mình hay hai người thôi thủ , tuy thực hiện động tác chậm rãi từ tốn , nhưng không có nghĩa là đánh mất sự khinh linh mẫn tiệp . Chậm rãi có thể biến thành nhanh lẹ , trầm ổn cũng là lấy khinh linh mẫn tiệp làm cơ sở .
Vương Tông Nhạc có viết trong Thái Cực Quyền Luận : " Ðộng cấp tắc cấp ứng , động hoãn tắc hoãn tùy " , và " tuy thế hữu khu biệt , khái bất ngoại hồ tráng khi nhược , mạn nhược khoái , hữu lực đả vô lực , thủ mạn nhượng thủ khoái nhỉ " .
Như vậy ta có thể nói TCQ không phải chỉ đòi hỏi sự chậm rãi mà không đòi hỏi sự mẫn tiệp , chỉ có thể chậm mà không thể nhanh . Ðó là yêu cầu về thân pháp và bộ pháp củ "thiểm chiến" và "đẳng na" vậy .